THẾ A!
Posted On Tuesday, May 12, 2009 at at 11:45 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Chuyện này đọc ở đâu, tôi không nhớ nữa, nhưng nôi dung thì không thể quên. Chuyện rằng, cạnh một ngôi chùa nọ có một cô gái chửa hoang, chín tháng sau sinh ra được một bé trai. Cô ta liền ôm con tới chùa và nói với vị sư chủ trì rằng: "Đây là con ông, hãy nuôi lấy". Vị sư nọ không một biểu hiện tỏ ra ngạc nhiên hay bất bình phản ứng, bình thản nói: "Thế a!", rồi thanh thản nhận đứa bé để nuôi. Nhiều năm sau, cô gái quay trở lại và nói: "Đứa bé không phải con ông, hãy trả lại tôi". Vị sư nọ cũng không một biểu hiện tỏ ra ngạc nhiên hay bất bình phản ứng, bình thản nói: "Thế a!", rồi thanh thản trao lại cháu bé cho cô gái.
Tu vậy mới gọi là đắc đạo. Coi khinh cả những vô lý ở đời. Tôi vẫn ước ao, giá gì mình có được một phần trăm tư chất của vị sư nọ để tĩnh tâm mà sống cho an nhàn.
Vậy nên, trước những phản ứng của dư luận lo ngại về ô nhiễm môi trường và nhiều hậu họa khôn lường của việc khai thác Bô- xít ở Tây Nguyên, ông Sếp lớn của Than khoáng sản Đoàn Văn Kiển nói một cách thiếu trách nhiệm rằng:" Ô nhiễm hay không, có làm mới biết"
Tôi bấm bụng: "Thế a!"
Ngày 28 tháng 4 năm 2009, ông thứ trưởng Bộ Công Thương, đại diện Bộ Công thương đăng đàn diễn thuyết, không rõ nhận được chỉ thị ở đâu, mạt sát những ai không ủng hộ việc khai thác Bô- xít ở Tây Nguyên rằng: "... bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích đông và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với những nội dung không chính xác".
Tôi cười khẩy: "Thế a!"
Đọc mẩu tin về cuộc tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình sáng ngày 4 tháng 5 năm 2009, trả lời chất vấn và tâm nguyện của cử tri: muốn Quốc hội đưa ra bàn thảo và quyết định cho tiếp tục triển khai hay dừng dự án khai thác Bô- xit ở Tây Nguyên, ông Trọng, người đứng đầu Quốc hội nước nhà trả lời một cách xanh rờn rằng :"Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla"..
Tôi nhếch mép: " Thế a!".
Trong cuộc viếng thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày chiến thắng Điện Biên Phủ vừa rồi của các quan chức trong chính phủ, trước ý kiến của Đại tướng: "Rất mong các đồng chí lưu tâm đến chuyện khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là địa điểm chiến lược quan trọng của đất nước, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng an ninh không chỉ với Việt Nam mà cả với Đông Dương". Đại tướng cũng bày tỏ quan ngại về việc lao động nước ngoài vào theo các dự án này. Ông Dũng, thủ tướng chính phủ khẳng định: "Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của Đại tướng".
Tôi bồn chồn: "Thế a!"
Vậy rồi, chỉ mấy ngày sau, ngày 9 tháng 5, năm 2009, trong cuộc tiếp xúc trước kỳ họp Quốc hội với cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, khi được hỏi về vấn đề bô- xít ở Tây Nguyên, ông Dũng, thủ tướng, đại biểu Quốc hội của Hải Phòng, lại tuyên bố: Tài nguyên đất nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bô-xít lớn thứ 3 thế giới, riêng ở Tây Nguyên trên 5 tỷ tấn. Và "Việc khai thác sẽ được chỉ đạo nghiêm túc và có sự kiểm soát và quản lý chặt chẽ để đạt hiệu quả kinh tế, đảm bảo bền vững về môi trường; giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên".
Tôi thở dài: "Thế a!".
Nhưng rồi đêm nằm, không ngủ được. Tây Nguyên với màu xanh bạt ngàn quyến rũ, nét đẹp hoang sơ tồn tại cả hàng ngàn năm nay đang bị cày xới, băm nát như cơ thể người bị ghẻ lở; văn hóa cồng chiêng đặc trưng độc đáo của bà con người dân tộc Tây Nguyên đang bị đe dọa, và cao hơn, sự mất còn của Tây Nguyên, đất thiêng của ông cha, mái nhà của Đông Dương, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng ... ám ảnh tôi. Mình là con dân đất Việt, không thể thờ ơ với đất nước; lòng yêu non sông, lòng yêu tổ quốc này khiến tôi không thể dửng dưng : "Thế a!" được. Vậy là vùng dậy, buồn quá viết những dòng này để cảnh báo mình và những ai từng mũ ni che tai " thế a!" như tôi từng "thế a" trước vận mệnh dân tộc...
Bình thản "Thế a" trước mọi vô lý có thể giữ được cái thân mình, an toàn cho mình. Nhưng vô cảm, bàng quan với vận mênh đất nước, vận mệnh dân tộc, thiết nghĩ cũng có tội. Tội lớn.
3 giờ sáng ngày 11 tháng 5 năm 2009
ĐÌNH KÍNHNguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090512_thea.htm
Cuộc cạnh tranh bôxit Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc-Mỹ: vì sao Việt Nam lại thân Mỹ như thế?
Posted On Monday, May 11, 2009 at at 4:08 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Cuộc cạnh tranh bôxit Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc-Mỹ: vì sao Việt Nam lại thân Mỹ như thế?
Tây Nguyên miền Trung Việt Nam là một mảnh đất đẹp thần kỳ. Nói đến Tây Nguyên, người ta liền nhớ ngay đến hương vị nồng nàn của cà phê Arabica.
Sản lượng của cà phê Tây Nguyên đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Brasil. Hương vị của nó khiến cho người ta cảm thấy gần gũi, thân thiết với những gì bí ẩn của Tây Nguyên. Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, sự phong phú của tài nguyên khoáng sản ở Tây Nguyên đã quyết định từ trước rằng vùng đất này sẽ là nơi cạnh tranh trong trường đua của các quốc gia kinh tế lớn.
Tây Nguyên không chỉ nổi tiếng với Cà phê. Điều khiến Tây Nguyên nổi tiếng khắp thế giới là tài nguyên bô-xit phong phú cất giữ dưới lòng đất. Việt Nam là nước đứng thứ tư trên thế giới về trữ lượng tài nguyên bô-xit, tổng trữ lượng là hơn 8 tỷ tấn, trong đó trữ lượng của bô-xit Tây Nguyên đạt trên 5.5 tỉ tấn. Có thể nói, ở Tây Nguyên, mỗi tấc đất là một tấc vàng. Chế phẩm Nhôm là một trong những loại vật liệu cơ bản được dùng rộng rãi nhất trên thế giới, sự phong phú về tài nguyên tự nhiên của Tây Nguyên đã thu hút mối quan tâm chú ý cao của toàn cầu.
Tình trạng lạc hậu của cơ sở công nghiệp Việt Nam đang đối mặt với tài nguyên khoáng sản phong phú, bất kể là từ việc khai thác đến kỹ thuật gia công sâu đều phải dựa vào quốc gia khác. Đứng trước nguồn tài nguyên bô-xit hấp dẫn người ta như vậy, giữa hai tập đoàn khai thác nhôm lớn của hai nước Mỹ và Trung Quốc - Tập đoàn công nghiệp Nhôm Alcoa của Mỹ và Công ty cổ phần đầu tư Trung Quốc, đã xảy ra một cuộc vật lộn gay gắt. Chính phủ Việt Nam sẽ giao vấn đề bô-xit Tây Nguyên cho tập đoàn quốc gia Than và Khoáng sản Việt Nam kinh doanh. Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam có kế hoạch xây dựng hai doanh nghiệp khai thác và chế biến bôxit ở Tây Nguyên, trong đó một do công ty con của Xí nghiệp nhôm Trung Quốc, hạng mục kia là do Tập đoàn Alcoa của Mỹ tham dự.
Công ty con của Tập đoàn Alcoa của Mỹ đã có kế hoạch cùng với phía Việt Nam xây dựng một nhà máy liên doanh với quy mô 1,5 tỷ USD, Công ty này đã tiến hành những nghiên cứu có tính khả thi việc xây dựng một nhà máy chế tạo Alumina, và đối với việc đó, nhân dân Việt Nam dường như đã không có bất cứ tâm trạng bất mãn nào. Một hạng mục khác do công ty con của Công Ty nhôm Trung Quốc đảm nhiệm lại gặp phải những lời chỉ trích hiếm thấy từ phía những nhân sĩ bảo vệ môi trường và các đoàn thể nhân dân Việt Nam, rêu rao rằng trong hạng mục này, những tổn hại môi trường vượt quá xa những hiệu quả kinh tế.
BXTN:- Họ không nói đến một thực tế là Alcoa của Mỹ đã rút khỏi dự án để tiến hành các nghiên cứu nghiêm túc về môi trường. Và họ (có thể cố tình) không nhận ra rằng Mỹ không có mưu đồ lãnh thổ và lãnh hải với Việt Nam, rằng Mỹ có lợi nếu Việt Nam phát triển mạnh mẽ.
Một vị nguyên lão luôn luôn có cảm tình tốt đối với Trung Quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm nay 97 tuổi đã viết mấy bức thư công khai cho Chính phủ, cảnh cáo nói rằng, ảnh hưởng của Trung Quốc ở Việt Nam càng ngày càng lớn, cũng như có thể dẫn đến khả năng môi trường xấu đi do ngành công nghiệp khai thác mỏ vùng này gây ra.
Đối mặt với những tiếng nói bất đồng của các nhân sĩ bảo vệ môi trường và trong nội bộ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, người có hoàn cảnh giáo dục tại Trung Quốc, đã nói rằng, công nghiệp khai khoáng là một chìa khóa phát triền kinh tế Việt Nam, biểu đạt uyển chuyển sự ủng hộ đối với Công ty Nhôm Trung Quốc dính líu vào Việt Nam khai thác khoáng sản. Sau cùng, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, chủ quản công nghiệp cũng cho rằng, nền công nghiệp khoáng sản bôxit có thể kích thích TW phát triển kinh tế và xã hội ở Tây Nguyên.
Ông Hoàng Trung Hải nhấn mạnh, hạng mục này qua việc được Chính phủ Việt Nam nghiên cứu một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng, đối với Việt Nam phát triển một ngành công nghiệp quan trọng mà nói, là có ý nghĩa trọng đại, có tác dụng thúc đẩy rất lớn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng Tây Nguyên. Ông Hoàng Trung Hải cũng đồng thời nhắc nhở chú ý việc xây dựng đồng bộ hạng mục và bảo vệ môi trường, giảm ảnh hưởng môi trường đến mức thấp nhất, để làm yên lòng những người phản đối hạng mục
Đứng trước sự thâm nhập của hai công ty lớn Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam thể hiện thái độ hoàn toàn khác nhau, khiến người ta phải suy nghĩ sâu sắc. Mặc dù Hoàn cầu thời báo của Trung Quốc cho rằng, tiếng nói phản đối không phải nhằm vào Trung Quốc, mà là tiếng nói nghi ngờ chất vấn bình thường đối với những việc trọng đại của dân chúng Việt Nam, cũng là dịp để các phương tiện truyền thông nước ngoài nhân cơ hội này xào xáo làm căng thẳng quan hệ giữa các nước xung quanh như Trung Quốc và Việt Nam, nhưng lấy những trải nghiệm trong cuộc sống và công tác ở Việt Nam của người viết mà nói, rõ ràng những suy luận chủ quan cảm tính này chẳng qua chỉ là kỳ vọng tốt đẹp của Hoàn cầu thời báo mà thôi.
Trên thực tế, những tiếng nói phản đối hạng mục của Công Ty Nhôm Trung Quốc đã đại diện cho cách suy nghĩ chân thật của đại đa số người Việt, đồng thời cũng nhắc nhở Trung Quốc trong qua lại chính trị kinh tế với Việt Nam cần có sự điều chỉnh sách lược thích đáng, để xây dựng cơ sở lợi ích vững chắc của Trung Quốc tại Đông Nam Á.
Một bộ phận nhân sĩ Việt Nam phản đối công ty Trung Quốc tham dự hạng mục bô-xit (Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam rêu rao, những hạng mục Trung Quốc tham dự đều do phía Việt Nam bỏ vốn, phía Trung Quốc chỉ cung cấp thiết bị và kỹ thuật, sau khi xây dựng xong giao cho phía Việt Nam quản lý kinh doanh), đã để lộ những mối lo tiềm ẩn trong phát triển quan hệ Trung-Việt trong tương lai. Cảm giác lo sợ của Việt Nam đối với Trung Quốc phát triển nhanh chóng, nó không những không tiêu tan, mà còn từng bước lan rộng trong dân chúng Việt Nam, đồng thời có giá trị lưu ý Trung Quốc trong khi phát triển quan hệ song phương cần phải có sự đề phòng. Nguyên nhân gì đã tạo thành sự thân Mỹ bài Trung ở Việt Nam? Căn cứ vào những trải nghiệm bản thân người viết bài này và sự trao đổi với một số nhân sĩ Việt Nam của tác giả, những nhân tố chủ yếu dưới đây đã tạo thành sự lan rộng nỗi lo sợ của Việt Nam đối với Trung Quốc.
Nhìn từ phía Việt Nam sẽ thấy, Việt Nam vẫn còn chưa ra khỏi cuộc chiến tranh xảy ra cách đây 30 năm. Nhân dân Việt Nam đối với cuộc chiến tranh 30 năm trước luôn luôn có bất đồng rất lớn với thái độ của chính giới Việt Nam hiện nay. Chính phủ Việt Nam vì muốn thúc đẩy phát triển kinh tế, hy vọng duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, đã cấm dân chúng bình luận và phát biểu những ý kiến bất đồng về cuộc chiến tranh đó.
Hành động cấm đoán ngôn luận này buộc dân chúng Việt Nam phải phát ra từ những kênh khác, và việc đầu tư của Công Ty Nhôm Trung Quốc vào Việt Nam vừa khéo làm sao, đã cung cấp một con đường để phát tiết, từ đó dẫn đến “luận điểm Trung Quốc đe dọa” của nhân dân Việt Nam.
Nhìn từ vụ tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ thấy, Việt Nam cần những người ủng hộ có sức mạnh làm hậu thuẫn. Thế là họ sử dụng thái độ khác nhau để phân biệt đối xử đối với sự đầu tư vào bô-xit Tây Nguyên của hai nước Trung – Mỹ. Một nước nhỏ như Việt Nam, để duy trì ở mức độ tối đa lợi ích nước mình, tất nhiên phải lợi dụng hợp lý cuộc cạnh tranh giữa những nước lớn, để mưu cầu lợi ích lớn nhất cho mình.
Với sức mạnh quốc gia của Việt Nam, nếu Trung Quốc kiên trì lập trường cứng rắn tại biển Đông, hầu như Việt Nam không có dư địa để mà cả; nếu Mỹ dính líu vào và ngầm ủng hộ chắc chắn là sẽ hạn chế rất lớn quyền phát ngôn và hành động thực tế của Trung Quốc tại biển Đông. Phân biệt đối xử với đầu tư của Mỹ và Trung tại Tây Nguyên chính là kết quả mà một phần nhân sĩ bài Trung của Việt Nam mong muốn.
Xem xét từ thực lực kĩ thuật sẽ thấy, độ tín nhiệm của Việt Nam đối với công ty Mỹ là cao hơn. Phàm là những người nào đã tới Việt Nam, chỉ cần đến miền Bắc, miền Trung Việt Nam, sẽ chứng kiến tận mắt những hạng mục ô nhiễm môi trường như xi măng, thép, luyện kim màu và các dự án khác, phần lớn đều do thương nhân Trung Quốc đầu tư. Nhà đầu tư Trung Quốc đều sử dụng những công nghệ kỹ thuật tương đối lạc hậu hoặc trong nước đã đào thải, một mặt để kiếm tiền ở Việt Nam, đồng thời, mặt khác lại tàn phá nghiêm trọng môi trường bản địa. Đối với việc bảo vệ môi trường và đầu tư, các nhà đầu tư ở các quốc gia khác đều làm xuất sắc hơn nhà đầu tư Trung Quốc, đây là một sự thực không cần tranh cãi.
Thế là, công nghệ và sản phẩm Trung Quốc đều gây ra ấn tượng lạc hậu và kém chất lượng với dân chúng Việt Nam. Xem xét từ góc độ những phê bình ít thấy của những nhân sĩ Việt Nam bảo vệ môi trường đối với đầu tư của Trung Quốc vào Tây nguyên, không thể trách cứ nỗi lo sợ của Việt Nam với Trung Quốc, là bởi vì những việc làm của một số xí nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam đã khiến Việt Nam cảm nhận được mối lo đến từ Trung Quốc.
Thặng dư thương mại lớn của Trung Quốc đối với Việt Nam đã khiến Việt Nam sợ hãi bị Trung Quốc khống chế huyết mạch kinh tế quốc gia. Từ khi Trung Quốc và Việt Nam khôi phục bình thường hóa quan hệ giao lưu kinh tế và thương mại, Trung Quốc luôn luôn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Do sự lạc hậu của cơ sở công nghiệp Việt Nam, Trung Quốc chỉ nhập khẩu từ Việt Nam một ít sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm phụ nông nghiệp, Việt Nam lại cần ở Trung Quốc một lượng lớn sản phảm hóa chất, cơ điện, thiết bị sản xuất và hàng điện tử, v.v… Chỉ trong năm 2008 thặng dư thương mại Việt – Trung cao tới trên 10 tỉ USD. Thặng dư thương mại to lớn như vậy, bất kể chính giới hay người dân Việt Nam đều không muốn nhìn thấy một mình Trung Quốc hùng mạnh tại Việt Nam, quá ỷ lại vào Trung Quốc. Từ tình trạng này, không có gì là khó hiểu về những lời Võ Nguyên Giáp cảnh cáo Chính phủ Việt Nam không nên quá ỷ lại vào Trung Quốc.
Thất sách của đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam đã làm mất đi sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam. Nếu như nói 30 năm trước cuộc chiến tranh đã làm tổn thương trái tim của người Việt Nam, thì việc Trung Quốc chuyển dời những dây chuyền sản xuất đã đào thải và kỹ thuật xấu kém vào Việt nam chẳng khác gì xát thêm muối vào vết thương của Việt Nam. Hãy nhớ rằng năm đó khi Công ty xe hơi Pháp Peugeot mang dây chuyền sản xuất đã đào thải hợp tác với nhà máy ô tô Quảng Châu, đã thất bại thảm hại tại thị trường Trung Quốc khiến đến hôm nay vẫn còn nhiều người trong nước không cho rằng xe hơi Pháp là được. Ngày nay tại Việt Nam người Trung Quốc lại phạm sai lầm như Công ty Peugeot của Pháp năm ấy.
Việt Nam dường như trở thành nơi bán đổ bán tháo những dây chuyền sản xuất xi măng bị đào thải, các thiết bị luyện kim bị đào thải, các thiết bị dệt vải bị đào thải ở trong nước v.v... Một số xí nghiệp trong nước và một số doanh nhân nhầm tưởng rằng người Việt Nam không thể dùng sản phẩm chất lượng cao được; một số lượng lớn các sản phẩm chất lượng kém được bán tại Việt Nam đang làm bại hoại danh dự của Trung Quốc, và cũng gọi tới sự căm ghét của Việt Nam.
Người Việt Nam không tin Trung Quốc, do có những cân nhắc về lợi ích của quốc gia mình, thế nhưng những sai lầm do nhà đương cục Trung Quốc khi tiến hành xuất khẩu các ngành sản xuất và đầu tư vào Việt nam dẫn tới càng đáng để suy ngẫm và thảo luận sâu sắc.
Những sai lầm Trung Quốc phạm phải khi đầu tư vào Việt Nam, nay hy vọng người Việt Nam ngay lập tức có thể thay đổi ấn tượng về một Trung Quốc kỹ thuật lạc hậu và sản phẩm kém chất lượng là không thể thực hiện được. Nếu như Trung Quốc tiếp tục xuất khẩu vào Việt Nam kỹ thuật kém và sản phẩm chất lượng kém, sẽ gặp phải sự tẩy chay của người Việt Nam, và kết cục bị loại trừ khỏi thị trường Việt Nam sẽ là lẽ đương nhiên.
Đầu tư của Trung Quốc và Mỹ vào Tây nguyên gặp phải những cảnh ngộ không giống nhau, nếu chúng ta cứ đơn giản tưởng rằng đó là do các phương tiện truyền thông nước ngoài đang dụng tâm xào xáo và xúi bẩy quan hệ giữa Trung Quốc và các nước xung quanh thì đó chỉ là cách nhìn ấu trĩ phiến diện, đồng thời cũng che giấu qua loa tắc trách những vấn đề tồn tại của mình. Đối mặt với những tiếng nói phản đối hoài nghi của Việt Nam, chúng ta phải phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt của vấn đề là ở đâu. Nếu không chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố.
TN dịch. Dương Danh Dy hiệu đính
Nguồn: 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 1311582Thư một công dân gửi Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn
Posted On at at 11:34 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Nha Trang ngày 21 tháng 03 năm 2009
THƯ NGỎ (*)
Kính gửi TS Nguyễn Thành Sơn
Kính thưa Ông,
Thời gian qua cùng với nhiều người dân khác, tôi đã cố gắng tìm hiểu về việc nước Tàu “trúng thầu” khai thác boxit tại Tây nguyên. Đọc các bài viết trên mạng, bắt đầu từ thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và sáng nay, được đọc trên www.diễndan.org bản báo cáo (ngày 20/02/2009) này nữa của Ông, mới thấy thật là kinh hoàng, thật là sợ hãi về mọi mặt: Quốc phòng, kinh tế, xã hội, môi sinh… cho nước Việt mình. Chẳng lẽ, bước sang thế kỷ 21 được gần 10 năm rồi, với tỷ lệ số người có bằng tiến sỹ các kiểu của nước ta nhiều vào bậc nhất thế giới, lại cam chịu để cho cái tư duy điếc không sợ súng thắng thế?
Thưa Ông, tôi chỉ là một công dân bình thường vừa ngu dốt, lại vừa “điếc nòi, điếc nổ” về công nghệ khai thác loại khoáng boxit này, nhưng tôi vẫn thường phải giật mình, vô cùng hoảng sợ khi nghe tiếng pháo tép cảnh báo hiểm họa, sẽ đến với đồng bào mình của các nhà thông thái giàu tâm huyết với dân, với nước. Vì vậy, tôi xin có vài thiển ý qua nội dung bản báo cáo ngày 20/02/2009 của Ông như sau :
Thứ nhất: Đây là vấn đề rất lớn, liên quan đến Quốc kế dân sinh, có thể còn ảnh hưởng đến vận mệnh của đất nước, tại sao không phải là những cuộc hội thảo lớn ở tầm Quốc gia, thậm chí mời thêm các nhà khoa học chuyên ngành quốc tế, để với tinh thần phản biện khoa học làm sáng tỏ các mặt lợi, hại, mà lại chỉ lấy ý kiến ở một cuộc “tọa đàm”? Xin nhấn mạnh, tọa đàm được hiểu là chỉ ngồi nói chuyện, đàm đạo với nhau cho … vui, chứ làm gì có tranh luận, phản biện. Dự án khai khoáng boxit này của Chính phủ, hay của cơ quan, tập đoàn nào, thì Chính phủ, hay cơ quan, tập đoàn đó phải đứng ra bảo vệ trước sự phản biện của các cơ quan chuyên môn và của các nhà khoa học chứ? Xin nhấn mạnh nữa, tài nguyên Quốc gia là của toàn dân, của muôn đời con cháu mai sau, người quyết định cho phép cuối cùng phải là Quốc Hội. Vì tài nguyên quốc gia đâu phải của riêng Chính phủ, hay của một nhóm người nào đó!
Thứ hai: Nếu hai vị, bí thư tỉnh Đắc Nông và phó chủ tịch tỉnh Lâm Đồng phát biểu trong tọa đàm (như ông đã trích dẫn trong báo cáo) như vậy, để cho vui thì cũng như là chuyện ở quán nước vỉa hè thôi. Còn là để lấy “ý kiến lãnh đạo địa phương” phụ họa tung hô thêm cho Dự án, thì đúng như Ông khẳng định, đó là những ý kiến “phản khoa học”, phải nói là mít đặc về mọi mặt. Lãnh đạo của một tỉnh mà năng lực trí tuệ như thế, thì bất hạnh cho đồng bào Đắc Nông, Lâm Đồng mình quá. Nhân thể, tôi cũng nhớ lại hồi 1985 – 1987 cũng ở mấy tỉnh Tây nguyên có chuyện, người ta muốn bắt con cu ly để xuất khẩu, lúc đó Tiến sỹ di truyền học Phan Phải đã bức xúc nói rằng “ cu ly ra đi, thì cù lần ở lại”. Ông còn cho biết theo báo cáo trước đây, dự kiến mỗi năm ngân sách địa phương thu được từ khai khoáng boxit chỉ khoảng 120 tỷ, tại tọa đàm này đã được nói vống lên gấp 10 lần. Vậy thì là lừa bịp rồi còn gì? Là một công dân Việt Nam, tôi cũng xin nói thẳng để hai ông quan hàng đầu của tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng này nhớ cho rằng, tài nguyên boxit và tài nguyên đất cho các sản phẩm: cà phê , hồ tiêu; chè … là của cả nước, chứ không phải của riêng Đắc Nông, Lâm Đồng. Việc khai thác boxit với công nghệ ướt, rất “âm lịch” và quá cổ lỗ của nước Tàu, không chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường sống tại chỗ, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, sức khỏe của đồng bào ta ở các tỉnh, thành phố dưới này như: Sài Gòn; Đồng Nai; Biên Hòa v.v… Nếu vấn đề nghiêm trọng này được công khai cho người dân cả nước biết, thì liệu đồng bào ta có để yên?
Thứ ba: Trong báo cáo, Ông có nói đến bài phát biểu có thái độ “khiếm nhã” của ông Hồ Duy Liêm nào đó, đối với thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Xin được nêu, CỤ VÕ NGUYÊN GIÁP là lão tướng chống ngoại xâm thời hiên đại, thuộc bậc Cha, Chú của thế hệ chúng ta. Cụ cũng là người sáng láng nhất, không giống như các “cụ” khác, trong lòng người dân nước Việt hiện nay. Ông đã nêu rất đúng là, có những loại nhà khoa học chai, lọ. Tôi nghĩ, còn có cả đám học giả thau, chậu, chảo, hũ, chén, dĩa … chuyên ăn theo, nói leo, hoặc láu cá kiểu “xuân hóa hạt giống” của Luy-xen-cô… nữa. Nhưng cũng còn không ít những người làm khoa học chân chính. Vì vậy, dù thuộc diện nhà khoa học nào, thiên tài, âm tài đến đâu, thì trước hết ông Liêm vẫn là một công dân. Ông Liêm có quyền không đồng ý với quan điểm can gián, thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, đầy trách nhiệm với lịch sử, với đất nước, với muôn đời con cháu mai sau, trong thư của CỤ ĐẠI TƯỚNG TRONG LÒNG DÂN, chứ không được khiếm nhã, xấc láo với CỤ.
Thứ tư: Ông cho biết, người ta đã gửi cho ông một văn bản đóng dấu “mật”, có ý quy chụp, răn đe này nọ. Tôi cho rằng, việc một tổ chức nào đó có văn bản gửi cho tổ viên của mình để nhắc nhở công tác chuyên môn được giao, là bình thường. Nếu có ý quy chụp, răn đe, thì tôi thiển nghĩ, ông cứ việc yên chí nhớn đi! Cái “trò” ấy, cái “chiêu” ấy cũ mèm rồi. Thời WTO với xa lộ thông tin, dân chủ, công khai này đã khác xa, khác rất xa cái thời “nhất đội, nhì giời” mà cha, anh chúng ta đã từng ngấm đòn đấy, thưa Ông !
Thứ năm: Ăn quả nhớ người trồng cây. Đạo lý ấy của người Việt mình tự ngàn đời vẫn vậy. Tôi cho rằng, việc Ông được đào tạo trong và ngoài nước để thành NGƯỜI như bây giờ, ngoài công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, thì trước hết và trên tất cả, là tiền đóng thuế của dân. Nên lòng biết ơn ấy trước hết phải thuộc về nhân dân đấy Ông ạ ! Chính vì thế mà quan điểm nhất quán, trước sau như một của Ông thể hiện bằng văn bản, với tất cả kiến thức mình có được, về vấn đề khai thác boxit ở Tây nguyên, là cách trả ơn Nhân Dân thiết thực nhất, dũng cảm nhất và trách nhiệm nhất.
Thứ sáu: Mấy thế hệ chúng ta đều đã qua cái tuổi “tri thiên mệnh”. Có người đã qua được 10 năm, 15 năm hoặc hơn thế. Người xưa bảo ở tuổi ấy đã biết được “mệnh” trời và con ruồi bay qua đã phân biệt được đực, cái. Nói thế đã là chí lý lắm rồi. Nhưng lớp hậu sinh chúng ta, có lẽ phải thêm vào để được cho là “khả úy” rằng, đám nhặng bay qua cũng còn biết tỏng được cả những con “lại cái”. Nhân Ông có nhắc đến sự giáo dục của cha Ông về “thế lực phản động là gì, và phải làm gì ?”. Nghĩa là, cái đạo nhận biết rạch ròi phải trái, ngay gian, xảo trá ở đời, tôi lại nhớ đến lời dạy của cha tôi, mà đến nay tôi vẫn thuộc nằm lòng, rằng: Thấy cái hay phải học; Thấy lẽ phải thì theo; Thấy điều sai quấy, thì phải can gián; Thấy bạo lực, cường quyền thì phải chống. Nếu ngậm miệng thì có thể được “ăn” tiền, nhưng sẽ phải chuốc lấy sự phỉ nhổ của người đời và mai hậu.
Có vài ý dông dài xin được trao đổi cùng Ông. Xin cầu chúc cho Ông luôn vững như thành, như núi, được thiên an, vạn an, đại đại an, trong lòng nước Việt Nam ta thiên tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
Trân trọng!
Nguyễn Chính
đ/c 04 A Hoàng Diệu, Nha Trang
Tet: 0905112511 – Email: nchinhvn@yahoo.com
(*) Bản do tác giả gửi cho Bauxite Việt Nam, có thông báo là đã gửi cho diendan
Trận chiến mới dành cho nhà quân sự lão luyện của Việt Nam
Posted On Friday, May 8, 2009 at at 3:30 PM by Bô-xít Tây Nguyên
![]() |
| The battle to save the environment may be Giap’s toughest fight yet [Photo: T. Fawthrop] |
Thứ Sáu, ngày 8-7-2009
Năm mươi lăm năm sau ngày vạch ra kế hoạch và chỉ huy trận đánh mang lại chiến thắng quân sự và dẫn đến sự cáo chung cho chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương, vị Đại tướng lừng danh của Việt Nam Võ Nguyên Giáp vẫn còn đang chiến đấu.
Bằng lời khuyên thay vì súng đạn, trận chiến mới đây nhất của ông cụ 98 tuổi này là cứu lấy môi trường và “kẻ thù” của ông là việc khai mỏ bauxite.
Trong việc tìm kiếm dành cho công cuộc phát triển kinh tế mau chóng, chính phủ Việt Nam đã cam kết khai thác mỏ bauxite ước tính 5,3 tỉ tấn, thứ quặng chủ yếu trong thành phần của nhôm, mà hầu hết loại quặng nầy được xác định nằm ở tỉnh Đắc Nông thuộc Cao nguyên Trung phần.
Tướng Giáp, người đã chỉ huy trận chiến thắng quân đội Pháp mang tính chất lịch sử tại Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, đã và đang kêu gọi chính phủ Việt Nam hãy dừng những kế hoạch đó lại, ông viện dẫn việc khai mỏ sẽ gây nên sự tổn hại tới môi trường, hủy hoại đời sống những người thuộc dân tộc thiểu số, và về một mối đe doạ tới an ninh quốc gia.
Con người từng lãnh đạo quân đội Bắc Việt Nam chống lại Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam đã viết hai bức thư ngỏ – bức mới đây nhất là ngay trong tháng trước – để phản đối các kế hoạch khai thác bauxite của chính phủ, và lập trường của ông dường như đang có tác dụng khích lệ những người khác.
Trong một biểu hiện của sự phản đối công khai hiếm có tại một quốc gia cộng sản độc đảng, 135 trí thức và nhà khoa học đã ký vào một bản kiến nghị được gửi tới chủ tịch quốc hội tại Hà Nội.
Họ đã kêu gọi chính phủ hãy dừng khai thác những dự án bauxite mới tại Tây Nguyên cho tới khi có một cuộc điều tra thích đáng về tác động tới môi trường được hoàn tất.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi việc khai thác bauxite là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước” và nói rằng các dự án này sẽ được tiếp tục thực hiện trong khi vấn đề môi trường vẫn được quan tâm.
Thế nhưng theo Giáo sư Võ Quý, một trong những nhà hoạt động môi trường hàng đầu của nước này, thì “sự thiệt hại môi trường sẽ vượt quá xa giá trị của bất cứ những lợi lộc nào về mặt kinh tế”.
“Tôi ủng hộ việc phát triển kinh tế, nhưng không ủng hộ các kế hoạch khai thác bauxite,” ông đã nói với tờ Al Jazeera như vậy, và thêm rằng Tây Nguyên là một “vùng đất có vẻ đẹp mê hồn với tiềm năng du lịch-kinh tế và là một khu vực sản xuất nông nghiệp cho hiệu quả cao”.

Bauxite critics say the mining would ruin the rich eco-tourism potential of the highlands [EPA]
Những mối lo về chất thải
Quá trình tinh lọc bauxite sẽ thải ra hàng ngàn tấn chất thải độc hại được biết đến như là “bùn đỏ”, theo ông Quý và các chuyên gia khác cho biết.
Các nhà hoạt động về lĩnh vực môi trường đang còn mới mẻ ở Việt Nam lo ngại thứ cặn độc hại có thể đầu độc các dòng sông chảy vào những khu vực tập trung đông dân cư, bao gồm vùng Châu thổ sông Mekong đầy sinh lực ở miền nam – xứ sở của những trang trại nuôi cá và một số vùng sản xuất lúa gạo có năng suất cao nhất của Việt Nam.
Trong những bức thư của mình, tướng Giáp đã kêu gọi các nhà khoa học, các nhà quản lý và hoạt động xã hội hãy “đề xuất với đảng và nhà nước để có một chính sách đúng đắn cho các dự án bauxite tại Tây Nguyên”.
“Đó cũng là quan điểm của tôi rằng chúng ta không nên khai thác bauxite. Việc khai thác sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng tới môi trường, xã hội và quốc phòng,” ông viết.
Vị đại tướng cũng viện dẫn tới bản báo cáo từ những năm 1980 đã cảnh báo chính phủ rằng khai thác bauxite tại khu vực này “sẽ gây tàn phá môi trường, thiệt hại lâu dài về môi sinh, không chỉ thiệt hại cho những cư dân địa phương, mà còn hủy hoại cuộc sống và môi trường của những người dân sống tại vùng đồng bằng phía nam của các tỉnh miền trung phần nầy.”

Environmentalist fear bauxite red sludge
Hợp đồng đã được ký
Bất chấp áp lực của vị tướng, chính phủ đã đi tới và ký kết một hợp đồng với một công ty con của tập đoàn nhôm Chinalco của Trung Quốc để khai thác bauxite tại vùng cao nguyên này.
Song họ đã tổ chức một cuộc hội thảo hai ngày tại Hà Nội vào tháng trước dành cho các nhà khoa học để thảo luận về cách thức giảm thiểu sự tổn hại tới môi trường từ việc khai thác bauxite.
Và họ nói rằng dự án bauxite với Trung Quốc sẽ được giảm bớt về quy mô, với những hạn chế được đặt ra về số lượng công nhân Trung Quốc.
Những người chỉ trích (dự án khai thác mỏ bauxite) đã than phiền rằng việc có hàng ngàn công nhân khai mỏ người Trung Quốc tại vùng Tây Nguyên có tính chiến lược là một mối đe doạ về an ninh không thể chấp nhận được, căn cứ vào lịch sử xung đột dài lâu của Việt Nam với người láng giềng phương bắc của mình.
Nguyễn Thiện, một nhà văn Việt Nam nói rằng dự án này “là không hợp lý và thiếu khôn ngoan mà nhiều người dân đang nghi ngờ rằng nó là một phần của một thỏa thuận bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc với những ẩn ý mang tính chiến lược.”
Còn những người khác thì nói rằng việc khai thác bauxite thậm chí không thể đứng vững được về phương diện tính toán thương mại bởi nó đòi hỏi rất nhiều nước và điện năng – những điều kiện thường xuyên bị thiếu thốn ở Việt Nam.
Giáo sư Đào Công Tiến, một cựu hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thì nói rằng việc khai thác này có khả năng sẽ dẫn tới một tình trạng khan hiếm nước là thứ cần thiết ghê gớm cho những nhà sản xuất nông nghiệp ở Tây Nguyên.
Nguyễn Hữu Ninh, một người giành được Giải Nobel Hòa bình (2007) cho những công trình của mình về biến đổi khí hậu, đã đặt nghi vấn rằng liệu các dự án bauxite có đem lại ích lợi cho quốc gia này hay không.
“Thật không khôn ngoan trong một dự án mà nó lại không đem tới những ích lợi cho người dân trong nước,” ông nói.
Thế nhưng bất chấp những mối nghi ngờ và những phản đối, chính phủ đã tuyên bố rằng dự án bauxite sẽ được tiếp tục.
Đối với ông Giáp, vị đại tướng từng chiến thắng trong những cuộc chiến chống lại người Pháp, và sau đó là quân đội Mỹ, trận chiến để bảo vệ những cánh rừng và các dòng sông của Tây Nguyên thoát khỏi những cuộc xâm lấn về kinh tế của người Trung Quốc chắc có lẽ là trận chiến khó khăn nhất của ông từ xưa đến nay.
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
————
ALJAZEERA.NET
New battle for old Vietnam soldier
UPDATED ON:
Friday, May 08, 2009
02:23 Mecca time, 23:23 GMT
Fifty-five years after masterminding a military victory that led to the end of French colonial rule in Indochina, Vietnam’s celebrated General Vo Nguyen Giap is still fighting.
The 98-year-old’s latest battle – with words rather than bullets – is to save the environment and his “enemy” is bauxite mining.
In its quest for rapid economic development, Vietnam’s government has committed to mining an estimated 5.3 billion tonnes of bauxite, the main ore in aluminium, most of it located in the Central Highlands province of Dak Nong.
Giap, who orchestrated the historic defeat of the French army at Dien Bien Phu on May 7, 1954, has called on the Vietnamese government to halt those plans, citing environmental damage, harm to ethnic minorities, and a threat to national security as reasons.
The man who led North Vietnamese forces against the US in the Vietnam War has written two open letters – the latest just last month – against the government’s bauxite plans, and his stand appears to have inspired others.
In a rare expression of public opposition in the one-party communist country, 135 intellectuals and scientists signed a petition that was delivered to the president of the national assembly in Hanoi.
They called on the government to stop further development of new bauxite projects in the Central Highlands until a proper investigation of the environmental impact is completed.
Nguyen Tan Dung, the prime minister, has called bauxite mining “a major policy of the party and the state” and says the projects will go ahead while environmental issues are addressed.
But according to Professor Vo Quy, one of the country’s foremost environmentalists, “damage to the environment far outweighs any economic benefits”.
“I support economic development, but not bauxite mines,” he told Al Jazeera, adding that the Central Highlands was an “area of stunning beauty with rich eco-tourism potential and a highly productive agricultural zone”.
Fallout fears
Bauxite extraction produces thousands of tonnes of toxic waste known as “red sludge” according to Quy and other experts.
Vietnam’s fledgling environmental movement fears the toxic residue could poison rivers that flow into heavily populated areas, including the vital Mekong Delta in the south – home to fish farms and some of Vietnam’s most productive rice paddies.
In his letters, Giap called on scientists, managers and social activists to “suggest to the party and the state to have a sound policy on the bauxite projects in the Central Highlands”.
“It is also my opinion that we shouldn’t exploit the bauxite. The exploitation will cause serious consequences on the environment, society and national defence,” he wrote.
The general also cited a 1980s report that warned the government that exploiting bauxite in the region “would cause devastateing, long-term ecological damage, not only for local residents, but would also harm the lives and environment of people in the southern plains of the central provinces”.
Contract signed
Despite pressure from the general, the government has gone ahead and signed a contract with a subsidiary of Chinese aluminium firm Chinalco to mine bauxite in the highlands.
But it did organise a two-day seminar in Hanoi last month for scientists to discuss how to minimise damage to the environment from bauxite mining.
And it said that the Chinese bauxite project would be reduced in scale, with restrictions placed on the numbers of Chinese workers.
Critics had complained that having thousands of Chinese mine workers in the strategic Central Highlands was an unacceptable security threat, given Vietnam’s long history of conflict with its northern neighbour.
Nguyen Thien, a Vietnamese writer says the project “is all so illogical and irrational that many people suspect it is a part of a secret deal between Vietnam and China with strategic implications”.
Still others say that bauxite mining is not even commercially viable since it requires a lot of water and electricity – commodities often in short supply in Vietnam.
Professor Dao Cong Tien, a former president of Ho Chi Minh City’s Economics University, says the mining was likely to result in a water shortage which would severely affect Central Highlands agricultural producers.
Nguyen Huu Ninh, a Nobel Prize winner for his work on climate change, questions whether bauxite projects benefit the nation.
“There is no sense in a project that does not bring benefits to local people,” he says.
But despite the doubts and objections, the government has said that the bauxite project will go ahead.
For Giap, the general who has triumphed in wars of resistance against French, and later US forces, the battle to protect the forests and rivers of the Central Highlands from the encroachments of Chinese economic may prove to be his toughest yet.
Tướng Giáp
Posted On at at 1:34 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Nguồn: http://www.blogosin.org/?p=881
Những đoạn (…) là tự ý đục bỏ
Tiếng vỗ tay như vỡ tung Cung Hữu Nghị Việt Xô khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn giọng: “Xin chào mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời đó là Tổng Tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ, người đã chấp hành triệt để và sáng tạo quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị, cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ giành toàn thắng”. Thật khó biết điều gì đang diễn ra trong lòng Tướng Giáp, từ lâu ông đã có một gương mặt rất ít biểu lộ. Nhưng, những giọt nước mắt của những người có mặt hôm ấy thì không thể kềm chế, chúng lăn rất nhanh trên má họ; lăn khi, tiếng vỗ tay vẫn cứ kéo dài. Hôm ấy là ngày 6-5-1994, tại Hà Nội, Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Bài diễn văn dài của Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ vỏn vẹn có 59 từ nói về Tướng Giáp, lại được viết rất công thức, “rào đón” bằng cả “Bộ Chính Trị” và “Bác Hồ”. Sở dĩ, chúng có thể tạo ra sự rung động đặc biệt đến vậy, là vì đó là lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, cái tên Võ Nguyên Giáp lại được nhắc đến trong một buổi lễ chính thức. Điện Biên Phủ là một chiến thắng “chấn động”, một chiến thắng đưa Võ Nguyễn Giáp trở thành một bậc tướng huyền thoại. Nhưng, năm 1984, khi chuẩn bị số đặc biệt mừng 30 năm Điện Biên, vào giờ chót, một tờ báo lớn đã phải “bóc” hình Tướng Giáp.
…
Trước lễ 7-5-1994, khi gặp phỏng vấn ông, tôi đã đặt một câu hỏi mà sau đó, báo Tuổi Trẻ “tự ý đục bỏ”: Thưa Đại tướng, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra, Đại tướng đang là Bộ trưởng Quốc Phòng, Bí thư Quân ủy, Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang, nhưng tại sao vai trò của Đại tướng rất ít được nhắc tới trong hồi ký Đại Thắng Mùa Xuân của tướng Văn Tiến Dũng? Tướng Giáp đáp: “Nhật ký Tổng Hành Dinh ghi rõ, trong những ngày ấy, tôi lệnh gì, anh Ba (Lê Duẩn) lệnh gì. Tôi nghĩ, các nhà sử học muốn tìm hiểu sự thật nên tiếp cận với các tài liệu chính thức ở Tổng Hành Dinh thay vì thông qua lời tuyên bố của một ai đó”. Khi nói tới “Nhật ký Tổng Hành Dinh” ông quay qua nói với thiếu tướng Lê Phi Long, người cùng có mặt trong buổi phỏng vấn: “Cậu biết rõ điều này, Phi Long”.
Thiếu tướng Lê Phi Long nguyên Cục phó Cục Tác chiến, là người từng có nhiều năm làm việc trong Tổng Hành dinh. Có những giai đoạn như Mậu Thân, tướng Long được giao nhiệm vụ theo dõi chiến trường, mỗi ngày làm 3 báo cáo, sáng (6g), trưa (12g), chiều (6g) cho một số ủy viên Bộ Chính trị. Ông, có thể nói, vừa là một chứng nhân, vừa là một người tạo ra lịch sử. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Lê Phi Long là Chủ nhiệm “Hướng Tây Nguyên”, ở bên cạnh Tướng Giáp cho đến giai đoạn quyết định, được giao làm Trưởng phòng Tác chiến “Cánh quân Duyên Hải” do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, “thần tốc” đánh từ Trị Thiên vào thẳng Dinh Độc Lập.
…
Tướng Giáp kể lại rằng, trong cái ngày 30-4 ấy, sau khi nhận được tin báo Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Ông đã rời Tổng Hành Dinh, một mình bước ra phố. Khi đó ông có cái cảm giác của một tướng quân đã đánh xong thành lũy cuối cùng, đã hoàn thành nhiệm vụ. Có lẽ trong giờ phút hạnh phúc đó, Tướng Giáp không thể ngờ những gì sắp xảy ra với mình.
… Tháng 3 năm 1985, Tướng Giáp, lúc này đã không còn chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, vào Huế dự lễ mừng “10 năm giải phóng”. Cùng đi với ông có Tướng Lê Trọng Tấn, lúc bấy giờ là Tổng Tham mưu Trưởng và Tướng Lê Phi Long. Họ được đón tiếp khá nồng hậu và được bố trí nghỉ tại khu nhà nghỉ xưa kia của Ngô Đình Cẩn ở Huế. Tướng Lê Phi Long kể: “Anh Văn gọi tôi tới cùng đi dạo chơi quanh vườn và nói: “Lâu nay các cậu có nghe người ta nói gì về mình không?” Tôi trả lời. Anh bảo: “Sao không thấy nói lại! Trong tình hình phức tạp hiện nay, con người ta có thể bị phân hóa thành 3 thái độ: một là thẳng thắn đấu tranh bảo vệ sự thật, chân lý; hai là trong khi chưa có điều kiện nói ra sự thật thì ngồi yên kiên trì chờ đợi; ba là cơ hội, xuyên tạc, sẵn sàng đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật. Các cậu có đủ dũng khí thì theo cách một, chưa có điều kiện thì chọn cách 2, còn cách 3, thì phải tuyệt đối tránh”.
Hôm sau, đoàn của Tướng Giáp vào Đà Nẵng bằng đường bộ. Trên đèo Hải Vân, khác với không khí nồng hậu mà Huế giành cho Đại tướng, Đà Nẵng chỉ cử một tỉnh ủy viên trẻ măng, vô danh ra đón, không có đại diện Quân khu, Tỉnh đội. Tướng Lê Phi Long nhớ lại: “Chúng tôi rất bực mình, nhưng anh Văn vẫn bình thản”. Đêm ấy, Đoàn nghỉ ở nhà khách Mỹ Khê, sáng hôm sau, theo chương trình, đoàn sẽ đến đặt vòng hoa tại đài liệt sỹ trước khi dự lễ mừng chiến thắng. Nhưng đợi mãi, không thấy ai phát thư mời và phù hiệu cho đoàn của “anh Văn”. Các sỹ quan đi cùng hỏi thì được trả lời: “Mời ai đã có chủ định, kế hoạch cả. Ai không có giấy thì coi như không được mời”.
Lễ mừng Chiến thắng Đà Nẵng năm ấy được tổ chức trọng thể vì có Tổng Bí thư Lê Duẩn tới dự. Tướng Lê Phi Long kể, “chúng tôi rất băn khoăn, liền xin ý kiến của anh Tấn và anh Văn”. Trong đoàn có ý kiến, thôi không dự lễ nữa. Tướng Giáp suy nghĩ rất lâu rồi nhẹ nhàng nói: “Chúng ta vào đây không phải vì lễ lạt mà còn để viếng những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trên mảnh đất này. Đã tổ chức viếng thì phải tổ chức trang trọng, chu đáo theo đúng nghi thức quân đội”. Lập tức, Tướng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 tổ chức một lễ viếng riêng có đủ tiêu binh, quân nhạc và đích thân một vị trong Bộ Tư lệnh phải tháp tùng. Quân Khu 5, đương nhiên phải tuân lệnh. Sáng hôm sau, xung quanh đài liệt sỹ, dân chúng kéo đến rất đông, họ đến không phải được triệu tập. Họ đến để xem mặt vị tướng lừng danh mà họ vô cùng yêu mến.
…
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Tướng Giáp kể: “Ông ngoại tôi vốn là một lãnh binh theo nghĩa quân Cần Vương, mỗi khi Tây về làng bà ngoại lại phải bỏ mẹ tôi vào quang thúng gánh chạy”.
Những năm học ở Trường Quốc học Huế, cậu Giáp học rất xuất sắc, thường tới nhà cụ Phan Bội Châu đàm đạo và được cụ Phan cho mặc sức sử dụng kho sách của mình. Giáp cũng chơi thân với thầy giáo Đặng Thai Mai. Con gái cụ Mai, bà Đặng Bích Hà, sau này là phu nhân đại tướng, kể: “Ba tôi lớn hơn nhà tôi một giáp, nhưng hai người là bạn vong niên, rất thân nhau”.
Năm 1929, 18 tuổi, lần đầu tiên Giáp ra Hà Nội. Một người đồng chí của ông ở Tân Việt, ông Nguyễn Văn Tạo, dẫn ông ra Cửa Bắc, thành Hà Nội để nhìn hai vết đạn đại bác của Pháp đánh dấu thành Hà Nội thất thủ. Tướng giữ thành Hoàng Diệu tự sát. Lúc dạy học ở Thăng Long, ông Giáp thường nói về tinh thần yêu nước và quá khứ anh hùng. Ông vẫn thường dẫn học trò ra đê Giảng Võ coi mộ Francis Garnier; ra Cầu Giấy chỉ cho học sinh mộ Henri Rivière để nung nấu họ tinh thần chống Pháp.
Một trong những học trò của Tướng Giáp, ông Bùi Diễm, một người đã từng là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa năm 1965, nhớ lại: Khi tôi vào trường Thăng Long, nơi đây đã sôi sục ý chí chống Pháp và những cuộc tranh luận về tương lai cho xã hội Việt Nam. Ban giáo sư gồm những người như ông Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giam, Trần Văn tuyên… Nhưng trong tất cả những nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người tôi khó quên: đó là ông Võ Nguyên Giáp, người dạy tôi về môn Sử. Dáng người nhỏ nhắn song nhìn vào ông thì thấy cả một bầu nhiệt huyết. Những gì về ông Giáp hồi ấy thật đặc biệt, vì vậy mà hơn nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Phần giảng dạy của ông về Nã Phá Luân (Napoléon) rất ly kỳ. Ông trình bày tường tận chiến thuật và chiến lược của Nã Phá Luân bằng cách tả rõ từng trận đánh nhỏ một. Hình như ông đã in tất cả trong đầu và Sử trở thành một phần trong con người ông. Ông như chìm đắm vào thế giới của mình và ông lôi kéo học trò vào thế giới đó. Trong giờ ông giảng, học sinh thường im lặng như tờ… (Bùi Diễm- Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai, 2000, tr. 21,22,23).
Lần ra Hà Nội năm 1929 để bàn với chi bộ Vinh và Hà Nội tổ chức cho Nguyễn Thị Minh Khai đi thoát ly, theo lời kể của chị Hồng Anh, con gái Tướng Giáp: “Cha tôi lần đầu tiên nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Thị Quang Thái (cô em gái trẻ, thông minh và rất xinh đẹp của Nguyễn Thị Minh Khai-HĐ). Trong chuyến tàu cha tôi trở lại Huế, tới Vinh thì gặp mẹ tôi (Quang Thái) lên tàu, cùng với một nữ sinh Đồng Khánh. Lúc đó mẹ tôi mặc áo dài, tóc để xõa, da trắng, gương mặt sáng. Nhưng điểm gây ấn tượng với cha tôi nhất là đôi mắt”. Năm 1935, họ cưới nhau.
Năm 1940, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng được tổ chức đưa sang Vân Nam. Giáp chia tay với người vợ trẻ Nguyễn Thị Quang Thái khi họ vừa có Hồng Anh, con gái đầu lòng. Đó là lần chia tay cuối. Sau khi Giáp ra đi, Nguyễn Thị Quang Thái bị Pháp bắt và năm 1944 chết trong nhà tù.
Năm 1946, Võ Nguyên Giáp tới thăm gia đình ông Đặng Thai Mai khi gia đình giáo sư vừa rời Sầm Sơn ra Hà Nội sau khi từ chối một chức bộ trưởng trong chính phủ Trần Trong Kim. Năm ấy, bà Đặng Bích Hà bước sang tuổi 19, đẹp và là “tiểu thư” trong một gia đình danh giá. Mối tình của họ đã đưa bà Đặng Bích Hà lên chiến khu, sinh cho ông thêm hai cô gái, và đúng năm 1954 sinh hạ người con trai thứ nhất, đặt tên là Võ Điện Biên.
Khi phân công trong Đảng, Hồ Chí Minh nói: “Việc quân sự giao cho chú Giáp”. Cụ Hồ cũng đã từng cử Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc học quân sự. Nhưng trên đường đi, Chiến tranh Thế giới thứ hai đưa người Pháp ở chính quốc vào thế thua, Hồ Chí Minh thấy thời cơ tới nên gọi ông trở lại. Từ đó ông không có thêm cơ hội để học qua bất cứ một trường lớp nào. Có lẽ, chính những năm dạy sử ở Trường Thăng Long đã hình thành nên tư duy quân sự ấy.
Thiếu tướng Lê Phi Long cho rằng: “Ngoài tài năng còn có một yếu tố quan trọng khác, ông là một người có đầu óc thực tiễn ghê gớm, luôn tổng kết trong thắng, trong bại để tìm ra cách đánh mới”. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng đã quyết định thay đổi từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chậm, thắng chắc”. Một quyết định mà theo GS Phan Huy Lê, trở thành nhân tố làm nên Điện Biên Phủ. Một quyết định mà theo thượng tướng Lê Trọng Tấn, tránh cho toàn bộ lực lượng của ta bị “phơi áo” trong lòng chảo Điện Biên. Nhưng quyết định đó không chỉ là kết quả của “11 ngày đêm trăn trở”. Theo thiếu tướng Lê Phi Long, từ tháng 5-1953 sau trận Nà Sản, Đại tướng đã quyết định thành lập một tổ nghiên cứu 24 người nằm trong rừng lim khu căn cứ Định Hóa để “chuẩn bị lý luận đánh tập đoàn cứ điểm”. Tướng Lê Phi Long là một trong 24 sỹ quan nằm trong “Tổ Nhiên cứu” ấy.
Năm 1975, kết thúc chiến tranh. Năm 1977, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cho thôi chức Bí thư Quân ủy trung ương, thôi bộ trưởng Bộ Quốc phòng, những chức vụ mà ông được giao kể từ năm 1946. Năm 1982, ông không còn là ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1983, ông được giao kiêm nhiệm chức Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về sinh đẻ có kế hoạch. Năm 1983, dân gian làm thơ: “Nhà thơ làm kinh tế/Thống chế đi đặt vòng”. Cũng trong năm 1983 ấy, ông về quê, thảnh thơi đi bộ ra chợ Tréo (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Chợt hỏi: “Bún chợ Tréo chấm ruốc, giờ có còn ngon không?”. Mấy người dân quê nghe “bún chấm ruốc” từ miệng vị tướng lẫy lừng, không hiểu sao, òa khóc.
(Phần cuối bài này có sử dụng một số chi tiết tôi đã viết trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tháng 5-2004)
Bức thư thứ hai của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Posted On Friday, April 10, 2009 at at 1:15 AM by Bô-xít Tây Nguyên
![]() |
| Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Đức Thắng. |
Tại Hội thảo khoa học về vấn đề bô xít ở Tây Nguyên sáng 9/4, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đọc bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
> Công bố quy hoạch dự án bauxite Tây Nguyên
Dưới đây là nội dung thư:
Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.
Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.
Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.
Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.
Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
Hà Nội, ngày 9 tháng 4 năm 2009
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Bức thư thứ nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Posted On Wednesday, January 14, 2009 at at 11:15 AM by Bô-xít Tây Nguyên
| Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý về dự án bô xít Tây Nguyên |
| (TuanVietnam) - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa gửi thư đến Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị "cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định". |
Thời gian vừa qua báo chí đăng nhiều bài và ý kiến của các nhà khoa học và hoạt động xã hội cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội của các dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên. Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện. Tuy nhiên, các dự án này vẫn đang được triển khai, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án). Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên. Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan - cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên đến 2025. Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô-la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta. Vừa qua đồng chí Thủ tướng đã quyết định bác dự án nhà máy thép lớn của Hàn Quốc tại vịnh Vân Phong, khẳng định quyết tâm của Chính phủ phát triển kinh tế bền vững, được đông đảo nhân dân và các nhà khoa học đồng tình, ủng hộ. Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định. Chúc đồng chí mạnh khỏe,
|

