Showing posts with label an ninh quốc phòng. Show all posts
Showing posts with label an ninh quốc phòng. Show all posts

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản)

BXTN:- Bài trả lời phỏng vấn của GS. Nguyễn Huệ Chi được đăng tạm thời qua trang talawas do trang bauxitevietnam đang tạm thời có trục trặc kỹ thuật.


1. Tai sao ong phan doi du an khai thac bo-xit tai Tay Nguyen?

Không phải chỉ riêng tôi mà bất kỳ người Việt có lương tri nào cũng phản đối, vì đây là một dự án chưa thấy đem lại lợi ích gì cho đất nước mà nguy cơ tàn phá môi trường, tiêu diệt hệ sinh thái phong phú, và để lại những hậu quả nghiêm trọng về nguồn nước độc hại cho không chỉ riêng Tây Nguyên mà cả một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam Việt Nam, và không phải chỉ trong dăm mười năm mà trong ba bốn mươi năm hoặc lâu hơn thế, thì đã rành rành ra đấy. Đáng nói hơn nữa là nó đảo lộn đời sống của đồng bào người Thượng, thêm nhiều tập quán văn hóa lâu đời của nhiều tộc người Tây Nguyên rồi sẽ bị xóa bỏ. Sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu người các dân tộc ở đây không còn không gian truyền thống để sinh hoạt và không còn duy trì được bản sắc văn hóa của mình? Anh tôi, nhà dân tộc học Từ Chi trước đây gần 20 năm đã cảnh báo việc đưa người Kinh lên thâm nhập Tây Nguyên, sẽ làm biến chất cái làng cổ truyền Tây Nguyên qua việc “tập thể hóa” đất đai du canh của họ, đẩy người bản địa vào tận chân núi, lại “soán” luôn Ông “Giàng” (Yang) mà họ thờ phụng hàng bao nhiêu đời, thay vào đấy bằng một thứ chủ nghĩa vô thần cực đoan kỳ cục mà đến bây giờ người Kinh, ngay cả những vị quan chức cấp tối cao, tôi mạnh dạn mà nói thế, cũng không sao “đeo đẳng” mãi được nữa! Một tình trạng đến thế mà còn kéo dài thì nhất định trước sau sẽ xảy ra “sự cố”. Rất tiếc, điều anh tôi cảnh báo đã bị các nhà chính trị bỏ ngoài tai và như ta thấy, cách đây một số năm đã được chứng thực tại Tây Nguyên. Nay, người ta lại đang làm một chuyện tàn phá mới đối với Tây Nguyên mà vẫn tuyệt nhiên không chịu rút ra bài học không xa, có gốc gác là sự thiếu hiểu biết và thiếu thật lòng tôn trọng văn hóa Tây Nguyên. Họ chỉ biết có cái lợi thiển cận mà cái lợi ấy cũng rất mơ hồ, và nếu dùng công thức 50/50 như lời ông Đoàn Văn Kiển Tập đoàn Than khoáng sản thì còn là vô trách nhiệm! Đem đất nước và dân tộc ra mà thử nghiệm mà về kinh tế chỉ có thể trông mong hòa trong khi về tất cả các mặt khác lại không hòa mà thua trắng, chỉ có đám “đỏ đen” chứ có ai trung thực và yêu nước mà lại chịu đựng nổi lối tư duy cờ bạc đó? Cái hậu họa dứt khoát sẽ đến ngay nhãn tiền. Vì nghĩ thế, tôi và một số anh em tâm huyết đã phản đối dự án này.

2. Mot so nguoi cho rang su hien dien cua TQ tai Tay Nguyen chinh la nguyen nhan de ho phan doi du an nay. Theo y kien ca nhan ong, tai sao ho lai coi do la mot su de doa?

Câu hỏi này không rõ. “Họ” mà quý báo nói đây là ai? Nếu là đại đa số nhân dân Việt Nam thì xin quý báo điều tra thêm trong thực tiễn. Còn nếu là những người trí thức và công dân ký tên trong “Kiến nghị” thì nội dung “Kiến nghị” đã nói cụ thể; chúng tôi lo ngại ở 4 điểm:

1. Việc lập dự án khai thác bauxite mới được công khai hóa từ cuối năm 2008 nhưng trên thực tế lại đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó mà chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Nghĩa là đối với chúng tôi, việc ký với ai cũng là quan trọng nhưng còn không kém quan trọng là nó có được tiến hành hợp pháp hay không. Tại sao lại có chuyện như vậy ở một đất nước từ lâu đã có Hiến pháp và gần đây còn ban hành hàng loạt bộ luật được Quốc hội thông qua? Đó là điều không thể lý giải. Một việc làm không hợp pháp được nhắm mắt làm ngơ thì bao nhiêu việc nữa sẽ khiến cho việc điều hành đất nước này trở nên lộn xộn, không minh bạch, xa lạ với quỹ đạo phát triển như mọi nước đã và đang đi[1] (Mới đây, ngày 4-5-2009, trả lời đông đảo cử tri Hà Nội yêu cầu đưa vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội phê chuẩn và giám sát “như ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có nói: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Ông còn nói thêm: “Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu” (xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/845582/). Trong khi đó thì mạng truyền thông Trung Quốc lại xác nhận các công ty của họ đã đổ vào Tây Nguyên những khoản tiền hết sức lớn, và họ đã bắt đầu thi công từng phần của dự án chứ không phải là “chưa ra đâu vào đâu” như ông Trọng nói (xem: http://www.youyiguan.com/bbs/viewthread.php?tid=20527). Mặt khác, tuy chia ra từng dự án thì quy mô ở Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ thật nhưng xét tổng thể cả quy hoạch bauxite Tây Nguyên hẳn phải nói là rất lớn! Báo “Du lịch” ngày 13-4-2009 đăng bài của một phóng viên lên điều tra tận nơi cho biết: “Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”. Cớ sao ta không trình Quốc hội trên Dự án tổng thể khai thác bauxite ở toàn vùng Tây Nguyên mà lại chia nhỏ ra từng dự án con để phán xét quy mô của mỗi cái là nhỏ? Hơn nữa, trong 5 tiêu chí của một dự án “cần phải đưa trình Quốc hội xét duyệt” theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29-6-2006 thì có tiêu chí thứ 4 ghi rõ “Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh”; Tây Nguyên ai cũng đều biết là “mái nhà Đông Dương” mà không đáng xếp vào tiêu chí thứ 4 sao? Hãy nghe Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: “Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (Cao nguyên) Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” (trích “Thư gửi BCT ĐCSVN và TT CPVN”). Cũng chính Kết luận số 245-TB/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN do Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang thông báo ngày 24-4-2009 có nói rõ: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Kết luận ấy chứng tỏ Bộ Chính trị biết vị thế Tây Nguyên trọng yếu như thế nào.

Tôi không phải là người có thói quen thích theo dõi nhân sự của một đảng cầm quyền, cũng không thích nghe lời bàn tán xầm xì của dư luận, chỉ biết làm chuyên môn và tôn trọng những ai là đại diện cho quyền lực của đất nước, nhưng trước việc này cũng không khỏi băn khoăn: hình như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chính là một Ủy viên trong Bộ Chính trị Đảng CS thì phải. Sao ông lại trả lời cử tri của mình lạ vậy? Người ta có cảm tưởng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đang… cãi lại Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, hay cũng có thể luận giải theo một hướng khác, rằng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng muốn “giải thích lại” thực chất ý nghĩ của Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng. Mong sao đó đều là những cảm giác nhầm lẫn (Được biết thêm chiều hôm qua, 14-4-2009, trong lời kết luận phiên họp của UBTVQH, ông Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu Quốc hội”. Có thế chứ. Xin ghi nhận chuyển biến đó và hãy cứ chờ đợi, lắng nghe ý kiến của các vị. Tuy nhiên, nếu Quốc hội chỉ nghe mà không thảo luậnbiểu quyết thì thưa ông Trọng, đó chẳng phải là điều người dân mong đợi).

Còn ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì phải nói là càng lạ nữa. Trong buổi sáng 7-5-2009 đến thăm sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trước lời khuyên thẳng thắn của Đại tướng về việc nên dừng dự án bauxite, ông nói gọn ghẽ: “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”, các báo mừng rỡ loan tin, vậy mà cách một hôm sau, tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông lại đã dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn!? Ô hay, chỉ mới qua một ngày một đêm thôi, mà cả một Chính phủ chứ có phải cá nhân ông đâu, đã “tiếp thu và nghiên cứu” xong ý kiến của vị Đại tướng nhanh thế a? Thế thì con ông và cháu ông sẽ hiểu vấn đề đạo lýlễ nghĩa trong xã hội Việt Nam là gì? Chuyện giáo dục bằng “gương người lớn” mà không quan trọng ư? Ông có nhớ câu chuyện cổ tích về một người bố cho ông nội ăn cơm trong gáo dừa thay bát cho khỏi vỡ, vì ông nội tay đã run, và đứa con nhìn thấy liền học theo, cũng chuẩn bị sẵn hai cái gáo dừa mẻ để dành về sau cho bố mẹ, hay không? Đó là chưa nói ông đang là “tấm gương” cho cả nước nhìn vào kia mà!

2. Ai cũng biết Trung Quốc rất cần nhôm để chạy đua trong ngành tên lửa và hàng không vũ trụ, để thực hiện những tham vọng không sao dò lường hết của họ. Từ lâu họ đã ký hợp đồng khai thác thứ quặng này ở nhiều nước và xúc tiến khai thác quy mô ngay cả trên đất nước họ. Khốn nỗi công nghệ của họ chưa đạt độ an toàn môi sinh cao, lại do những nhà thầu tư nhân thậm chí là những cai đầu dài vô học di cư bất hợp pháp chạy đua khai thác, đã gây ra những tai họa khủng khiếp ở lục địa Đen khiến cả thế giới đều lo lắng, và họ cũng đã phải đóng cửa rất nhiều mỏ quặng bauxite ở ngay trên đất nước họ[2 ] (Theo GS Nguyễn Ngọc Trân trong bài “Khai thác bauxite Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị” công bố ngày 8-4-2009 thì “Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn” (Xem: http://www.tuanvietnam.net/news/InTin.aspx?alias=thongtindachieu&msgid=6620). Cũng xin xem Dương Danh Dy: “Tìm hiểu tình trạng ô nhiễm môi trường klhi khai thác bauxit tại một vài nơi ở Trung quốc” (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/081128_timhieuonhiemotq.htm)). Thế thì làm sao mà tin họ được chứ! Thế mà lại ký hiệp ước mời họ đến khai thác bauxite trên đất nước mình, có phải là đã chuyển gánh nặng ô nhiễm tại đất nước Trung Hoa mênh mông sang mảnh đất Việt Nam bé nhỏ, để 84 triệu nhân dân Việt Nam gánh chịu thay cho 1 tỷ 3 dân của họ hay không? Sao lại có chuyện lạ đời đến thế? Ai, người Trung Hoa hay người Việt, đã tính chuyện lạ đời như thế?

3. Giới chuyên môn thừa biết đặc điểm quặng bauxite ở Việt Nam đòi hỏi một kỹ thuật khai thác khác với khai thác quặng bauxite ở Trung Quốc[3] (Xem thêm bài “Vấn đề công nghệ và môi trường trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên” của GS TS Nguyễn Thanh Sơn trên báo “Tia sáng” ngày 4-5-2009 (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2825&CategoryID=3). Thế mà ta lại du nhập công nghệ khai thác bauxite Trung Quốc vào Việt Nam kể cả du nhập nhà máy của họ. Lấy gì bảo đảm rằng những công nghệ khai thác ấy thích hợp với yêu cầu kỹ thuật khai thác bauxite của chúng ta, bớt tốn kém và đưa lại hiệu quả? Những gì người Trung Quốc đã làm ở châu Phi, nơi mà ngay cả ở nhiều mỏ đồng họ cũng phải cuốn xéo, chẳng là bài học đáng học hay sao? Tại sao cứ phải “cố đấm ăn xôi” (mà đã chắc đâu có xôi để ăn) như vậy?

4. Việc đưa công nhân Trung Quốc vào Tây Nguyên cũng là cả một vấn nạn khiến chúng tôi lo lắng. Tuy thông báo 245-TB/TW của BCT Đảng Cộng sản vừa rồi có nói “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”, và có chỉ thị về việc “sử dụng người lao động địa phương”, điều này có làm yên lòng chúng tôi ít nhiều, nhưng báo chí của Việt Nam trước đấy đều cho biết kể từ cuối năm 2008, các Công ty Trung Quốc đã đưa công nhân vào làm việc ở Tân Rai – và đưa vào nhiều rồi. Thế nghĩa là ông chủ có thể “chưa sẵn sàng dọn cỗ” nhưng đã có các loại “bất tốc chi khách” – khách không mời mà đến. Lạ lùng hơn nữa là những người ngoại quốc này còn làm việc một cách bất hợp pháp tại Việt Nam vì nhiều người trong số đó đến nước chúng tôi bằng visa du lịch chứ không phải visa làm việc – họ đâu được phép chuyển đổi từ “khách du lịch” sang “công nhân khai mỏ”?! Đối phó với các loại “khách” này sẽ ra sao, trong khi người Việt còn thất nghiệp và đi nhiều nước kiếm việc làm? Phải chăng là mình đã tự làm khó cho mình (nên nhớ xét về tỷ lệ, mật độ dân số ở Việt Nam hiện đã gấp đôi Trung Quốc)?

3. Xin duoc hoi ong voi nguoi Viet thi TQ co y nghia nhu the nao (ke thu cu, ke thu tiem an, doi thu hay nguoi anh lon)?

Chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc là bạn như mọi dân tộc khác ở gần cũng như ở xa Việt Nam. Chúng tôi nghĩ, nhân dân Việt Nam cần học hỏi mọi đức tính tốt đẹp của nhân dân Trung Quốc và củng cố mối quan hệ láng giềng giữa hai nước thật tốt. Đó là điều kiện để cả hai dân tộc cùng phát triển trong hòa bình, trong xu thế của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng giai cấp thống trị Trung Hoa đủ các mầu sắc từ sắc vàng các triều đại xưa đến sắc đỏ triều đại nay thì luôn luôn có dã tâm bành trướng, không phải chỉ bành trướng sang Việt Nam mà còn sang nhiều nước láng giềng, chuyện này lịch sử đã và vẫn đang còn ghi chép. Chỉ hai sự kiện này là đủ để hiểu “tim đen” của các “đồng chí Trung Quốc”: năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Hoàng Sa, chính quyền miền Nam Việt Nam chưa tiếp quản kịp, Trung Quốc liền tức tốc cho quân ra chiếm; năm 1974, biết tình thế nguy cấp của chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc cũng tức tốc thực hiện chiến thuật cũ, chiếm trọn cả quần đảo Hoàng Sa. Đó là thời của vũ lực. Nay đã sang thời kỳ mới, xâm lăng bằng kinh tế và văn hóa, tiêu diệt bà con láng giềng bằng gây ô nhiễm… Bởi thế, trong huyết quản con người Việt Nam vẫn sẵn có ý thức cảnh giác với mọi nguy cơ và phương thức xâm lược, và luôn luôn tự củng cố nội lực bằng tinh thần đoàn kết rộng rãi, điều ấy là dễ hiểu[4] (Mới đây thôi giới blogger Việt Nam mới phát hiện một vụ việc có thể nói là tày trời: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa để đưa tin về việc hợp tác kinh tế việt-Trung. Ngày khai trương có mặt cả 3 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai bên là đồng chí Hồ, đồng chí Nông và đồng chí Nguyễn, cùng kích hoạt cho trang mạng đi vào hoạt động. Nhưng hỡi ôi, chỉ sau ít lâu thì mới biết, nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam. Hỏi đến những người chủ trì trang mạng ở Bộ Công thương thì họ đành lắc đầu, không có cách gì để xóa, bởi một lẽ giản đơn là máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Trang mạng “Bauixite Việt Nam” đã loan báo kịp thời trong bài “Giao trứng cho ác”, có hình ảnh cả ba đồng chí lãnh đạo tươi cười đứng sát bên nhau trong ngày khởi động cái phương tiện truyền thông gây tai vạ chết người cho dân tộc chúng ta (xin xem: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2fjjj.onhkvgrivrganz.vasb/lxvra/090513_tvnbgehatpubnp.ugz); còn “Blog Lê Tuấn Huy” thì nêu vấn đề hình như đã chạm tới bản chất: “Đồng tiền và chủ quyền” (http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA–?cq=1&p=895); và “Blog Osin” gọi đó là “Giao trứng cho Trung Quốc” (http://www.blogosin.org/?p=898). Thử hỏi, với những chuyện chơi khăm kiểu đó, các “đồng chí Trung Quốc” thực hiên “16 chữ vàng” với Đảng Việt Nam có thật là “lòng vàng” hay không, hay là chỉ “lòng vàng” với Đảng mà “dạ tối thui” với đất nước và nhân dân này? Ngoài ra, dù gì đi nữa, dù vô tình hay cố ý, ngây thơ hay dại dột, thì vẫn cứ nhất thiết phải truy cứu: người nào ở cấp nào đã bị kẻ khác “làm xiếc” và người nào ở cấp nào là Lê Chiêu Thống trong trường hợp giao truyền thông cho Trung Quốc “nắm gáy” nói trên?).

4. Cac ong dang kien nghi gi tu phia chinh phu?

“Kiến nghị” đề ngày 12 tháng Tư năm 2009 của chúng tôi yêu cầu Chính phủ hãy dừng toàn bộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, có tổ chức giám sát chặt chẽ, và đưa dự án khai thác đó ra thông qua Quốc hội để Quốc hội xem xét thấu đáo tính chất tiền khả thi của nó, sau đó phê chuẩn hoặc bác bỏ là toàn quyền của Quốc hội. Nhưng cũng trong “Kiến nghị”, chúng tôi lại cũng khẩn thiết kêu gọi Quốc hội hãy “thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó” để Quốc hội có quyết định hợp lý hợp tình.

5. Cac ong keu goi moi nguoi tham gia hoat dong cua minh bang cach nao?

Thực ra chúng tôi không kêu gọi mọi người tham gia ký vào “Kiến nghị” mà lúc đầu chỉ gửi e-mail đến 15 người bạn nhờ góp ý tư vấn cho mình. Không ngờ đây vốn là một mối quan ngại đã nung nấu sẵn trong tâm can nhiều người chỉ chờ dịp là bùng phát, nên “Kiến nghị” được nhiệt liệt hưởng ứng, người này truyền cho người kia, rốt cuộc đến chiều ngày 16 (sau 4 ngày) thì đã có 133 người ghi tên vào danh sách, trong đó có rất nhiều nhà khoa học hàng đầu, văn nghệ sĩ tiêu biểu ở trong nước cũng như ngoài nước. Và cho đến nay con số đã trên 1.000 người. Tuy nhiên, quan điểm nhất quán trước sau của chúng tôi là muốn cho Nhà nước thấy sự thành tâm của mình, đây không phải là một việc gì khuất tất, nên những ai muốn ghi tên phải có đủ thông tin về nhân thân và về địa chỉ cư trú cụ thể. Vì thế, trong danh sách gửi lên cũng chỉ mới chọn lọc được 400 người và sắp tới sẽ có thêm 200 người nữa; những người còn lại phải bổ sung một số thông tin còn thiếu thì mới được gửi tiếp[5] (Hiện nay, Danh sách đợt 3 đến con số 600 đã công bố, chúng tôi sắp công bố Danh sách đợt 4 để gửi lên Nhà nước, đến hơn 1.000 người. Tiến độ có chậm trễ so với lượng người đăng ký (quá chậm trễ là khác) vì chúng tôi đều làm việc “tay trái”).

6. Theo du kien se co mot cuoc tu hop, trong hoa binh, vao ngay 23/4 de bay to su phan doi doi voi viec tien hanh du an. Xin duoc hoi ly do gi da khien cho cuoc tu hop ay khong dien ra?

Chúng tôi không biết đó là dự kiến của ai, riêng chúng tôi không hề đề xuất dự kiến này.

8. Xin cho biet ke hoach trong tuong lai cua cac ong la gi?

Việc lưu truyền bản “Kiến nghị” trên các trang mạng kể từ ngày 12-4-2009 làm cho ba người soạn thảo chúng tôi liên tiếp nhận được một số lượng e-mail hưởng ứng không sao trả lời xuể. Vì thế, đến ngày 22-4-2009 thì chúng tôi đành phải lập một Blog “Bauxite Việt Nam” (http://vn.myblog.yahoo.com/huechivn2009) để tiếp nhận thông tin từ khắp bốn phương. Nhưng rồi số lượng người truy cập cũng nhiều đến mức quá tải, đến ngày 28-4-2009 đã có hơn 41 vạn lượt người vào xem. Thế là đến ngày 27 tháng Tư năm 2009 chúng tôi lại phải chuyển đổi từ blog sang Website “Bauxite Việt Nam” (http://www.bauxitevietnam.info) do một số anh em tâm huyết đứng ra điều hành. Đến nay mới chỉ qua một ngày mà đã có hơn 36.000 lượt người truy cập[6] (Tính đến chiều 14-5-2009 đã có trên 40 vạn lượt người vào xem trang mạng của chúng tôi. Sở dĩ nói một cách phỏng đoán thế thôi vì tự nhiên trang mạng bauxitevietnam.info đang yên lành bỗng gặp “trục trặc”, vào mạng vẫn được, song upload thì không được nữa, và số lượng người truy cập hiển thị trên trang web cũng bị xóa. Ai mà lo ngại ảnh hưởng của trang mạng vốn tuân thủ nghiêm chỉnh phép nước của chúng tôi thế nhỉ? Chắc đây phải là “kẻ địch”, “mưu toan phá hoại đất nước”, nói như Thông cáo báo chí ngày 28-4-2009 của Bộ Công thương).

9. Cung co cac quoc gia khac nhu My dang can nhac khai thac khoang san tai VN. Cac ong co phan doi nguoi My toi VN ko? Neu khong, tai sao ong lai Kien nghi nhu vay?

Chúng tôi không hề phản đối người Mỹ tới Việt Nam đặt quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trái lại, việc củng cố mối quan hệ Việt-Mỹ giúp cho Việt Nam phát triển là một yêu cầu tối cần thiết. Nhưng nếu người Mỹ đến chỉ để khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì mọi vấn đề đang đặt ra về môi sinh, về văn hóa, về lợi nhuận… vẫn như thế, có khác gì đâu. Chúng tôi không kỳ thị các công ty Trung Quốc, mặc dù công nghệ Trung Quốc chắc chắn là kém xa Mỹ – và đã từng để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho đất nước chúng tôi như các nhà máy mía đường Trung Quốc mà Nhà nước chúng tôi từng nhập về cách đây hàng chục năm làm cho ngành mía đường Việt Nam thua lỗ chỏng gọng vì dây chuyền công nghệ cũ mèm. Người nhập kiếm được một món béo bở, tất nhiên, còn dân chúng phải è cổ ra gánh chịu mọi hậu quả, ai mà chả thấy[7] (Ngay chính một trang mạng của Trung Quốc 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 3984582, trong bài “Cuộc cạnh tranh bô-xít Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ” cũng thừa nhận chính sách đưa các dây chuyền công nghệ đã bỏ đi cũng như các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc vào đầu tư tại Nam Trung Bộ Việt Nam từ lâu đã gây ra ô nhiễm tệ hại và làm cho người Việt Nam thêm nghi ngại Trung Quốc, “Nếu không phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt… chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố”). Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là phải bảo vệ sự an bình của Tây Nguyên bằng mọi giá, hơn nữa cũng phải bớt dần đi cái lối làm kinh tế theo kiểu cứ moi khoáng sản lên để bán. Cái đó là một biện pháp “bóc ngắn cắn dài” chỉ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế các nước hiện đại.

10. Theo ong thi cac cty VN ky hdong voi cong ty cua TQ khi nao vay?

Việc này không có báo chí nào đưa, có lẽ cũng là điều cấm kỵ sao đó nên tôi không thể trả lời quý báo chính xác được. Trên ba số báo mạng Vietnamnet bằng tiếng Anh ra các ngày 23-09-2004, 14-10-2005 và 02-11-2005 có nhắc rằng dự án ký kết đã được duyệt, số tiền là bao nhiêu bao nhiêu, nhưng lại không hề ghi rõ ngày tháng hai bên đặt bút ký. Có lẽ “lề đường bên phải” phải dùng đến loại giày riêng, buộc báo chí phải “gọt” hết những con số thòi ra như vậy cho “vừa giày”. Chỉ biết đến nay, theo trang mạng BBC, Công ty Chinalco đã đưa người vào khai thác ở Tây Nguyên rồi[8] (Trong “Thư ngỏ” số 2 gửi lên các vị đứng đầu cơ quan quyền lực Nhà nước ngày 7-5-2009, chúng tôi đã tra tìm được các “bản ghi nhớ” ký với nhau giữa các công ty TQ và Việt Nam từ 2001 đến 2007; như vậy, câu trả lời này đã được bổ sung cụ thể và rõ ràng).

11. Cho toi thoi diem hien tai, theo ong duoc biet, da co bao nhieu cong nhan TQ dang lam viec o cong truong?

Đây cũng là một “bí mật nhà nước” mà báo chí không được phép để lộ. Trên Vietnamnet ngày 14-4-2009 có nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây, chứ không nói rõ số lượng bao nhiêu. Tất nhiên 20 dãy nhà kia chỉ là nhà cho công nhân làm việc cơ bắp chứ chuyên gia kỹ sư Trung Quốc thì đều ở các ngôi nhà ngoài thị trấn. Tuy vậy cũng trong bài báo ấy lại có để lộ rằng: theo lời một chủ quán ăn là Phượng thì số lượng công nhân Trung Quốc ở khu mỏ vào khoảng 800 người. Còn theo trang mạng “Sài Gòn tiếp thị” ngày 15-4-2009 thì những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đã đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cần chú ý thêm là cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít; quá ít người dân địa phương được nhận vào làm. Riêng ở Đắc Nông, tức ở khu mỏ bauxite Nhân Cơ, nơi hiện đang xúc tiến mạnh việc xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, thì theo báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây (trích lời ông Bùi Quang Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV), nhưng sau đó, ông Ngô Tố Ninh, lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV lại đã cải chính rằng con số nêu trên là chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (Vietnamnet ngày 26-4-2009). Chỉ chừng đó cũng đủ thấy một chuyện không có gì ghê gớm cả mà đối với thông tin truyền thông Việt Nam vẫn là cả một trò… “ú tim”. Trong khi ở Tân Rai người ta không nhận công nhân người Việt thì liệu 3.000 công nhân tại Nhà máy alumin Nhân cơ do Tập đoàn Chalco cai quản có được bao nhiêu người Việt? Muốn điều tra cho rõ điều này chắc phải có một đội ngũ các nhà xã hội học chịu khó xin phép đến Nhân Cơ hỏi chuyện từng người bằng tiếng Hoa, tiếng Việt, hoặc bằng tiếng của người dân tộc bản địa rồi cứ thế làm một phép cộng tỉ mỉ mới biết đích thực có bao nhiêu trong số 3.000 công nhân kia là người Việt Nam[9] (Không phải chỉ ở Tây Nguyên, rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, công nhân Trung Quốc đã sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, công trường đông đặc. Xin xem bài “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” của Cầm Văn Kình và Đăng Nam trên báo “Tuổi trẻ” ngày 16-4-2009 và trên trang mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=311388; và các bài: “Người Quảng Tây ở Quảng Nam” trên báo “Sài Gòn tiếp thị” 5-5-2009 (http://www.sgtt.com.vn/Detail29.aspx?ColumnId=29&newsid=50976&fld=HTMG/2009/0505/50976); “Thợ Việt - Trung đón tết trên công trường thủy điện” trên báo “Quảng Nam” ngày 19-1-2009 (http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=16125&Itemid=202)).


Nguồn: http://www.talawas.org/?p=4424
-->đọc tiếp...

Báo cáo về bô-xít sẽ nằm trong báo cáo kinh tế-xã hội

BXTN:- Hy vọng nhân cơ hội này, Quốc hội sẽ quan tâm và giành được quyền cho biểu quyết thực hiện dự án hay không bởi theo đúng luật, dự án này cần được thông qua Quốc hội bởi nó liên quan đến khu vực quan trọng, nhạy cảm về an ninh quốc gia. Ngoài ra, mặc dù một số quan chức ủng hộ dự án có đưa ra lý do mỗi nhà máy (Tân Rai và Nhân Cơ) có số tiền chỉ mới 600 triệu USD nhưng đó là ngụy biện bởi phải được xét gộp trong một đại dự án mà Đảng và Chính phủ chủ trương.


Một ngày sau khi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đề nghị Chính phủ chuẩn bị báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên, ngày 15/5, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Công Thương sớm hoàn chỉnh báo cáo về các dự án bô-xít để bổ sung vào báo cáo kinh tế - xã hội.

>> Đại dự án bô-xít Tây Nguyên và ý kiến nhiều chiều

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, báo cáo này sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp sẽ khai mạc thứ 4 tuần tới.

Ông Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Công Thương bám sát ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 650/TTg-KTN ngày 29/4/2009 để hoàn thiện nội dung báo cáo, chuyển Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp chung.

Quang cảnh khai thác bô-xít tại Đắk Nông.
Ảnh do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cung cấp

Tại Công văn này, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ sung vào báo cáo kinh tế - xã hội trình Quốc hội tại kỳ họp tới việc thực hiện dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin. Thủ tướng cũng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án alumin Nhân Cơ, báo cáo Thủ tướng, đồng thời chuẩn bị báo cáo về tình hình thực hiện các dự án khai thác và chế biến bô-xít tại Hội nghị Trung ương tới.

Hôm qua (14/5), kết luận phiên họp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội thứ 5, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ "chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu".

Đáp lại đề nghị này, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho hay, sẽ báo cáo Thủ tướng để chuẩn bị một báo cáo riêng về bô-xít Tây Nguyên để gửi Quốc hội. "Những vấn đề mà đại biểu QH và người dân quan tâm, nhất là các vấn đề thời sự, Chính phủ sẽ tiếp thu và có báo cáo riêng", ông Phúc khẳng định.

  • VA

-->đọc tiếp...

Chủ tịch QH: Chính phủ phải có báo cáo riêng về bô-xít

BXTN:- Như vậy, gần như chắc chắn chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên sẽ được đưa ra báo cáo tại Quốc hội. Lưu ý rằng đây chỉ là báo cáo để các đại biểu biết - như lời Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Tôi hy vọng các đại biểu quốc hội sẽ không chỉ biết mà phải giành được quyền cho ý kiến về kế hoạch này, qua đó phản ánh và hiện thực hóa được ý nguyện của đại đa số người dân là dừng ngay lập tức dự án. Tôi mong các bậc trí thức, các nhà khoa học, tướng lĩnh - thông qua vai trò và quan hệ của mình để giúp các đại biểu quốc hội nhận thức rõ hơn lợi hại của vấn đề, từ đó đưa ra các quyết sách và hành động hợp với nguyện vọng của dân.


- Kết luận phiên họp UBTVQH chiều nay (14/5) bàn về việc chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội thứ 5, khai mạc vào tuần tới, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đề nghị Chính phủ "chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu".

>> Đại dự án bô-xít Tây Nguyên và ý kiến nhiều chiều

Các ĐBQH đề nghị Chính phủ báo cáo riêng về bô-xít Tây Nguyên. Ảnh minh họa Trí Dũng

Trước đó, một số đoàn đại biểu QH và các cơ quan của QH cũng có đề xuất tương tự.

Như vậy, mặc dù Thủ tướng đã giao một số bộ, ngành chuẩn bị báo cáo chủ trương và quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên để đưa vào báo cáo chung về kinh tế - xã hội, nhưng Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu đều mong muốn Chính phủ chuẩn bị một chuyên đề riêng để trình Quốc hội.

Tiếp thu ý kiến này, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho hay, sẽ báo cáo Thủ tướng để chuẩn bị một báo cáo riêng về bô-xít Tây Nguyên để gửi Quốc hội. "Những vấn đề mà đại biểu QH và người dân quan tâm, nhất là các vấn đề thời sự, Chính phủ sẽ tiếp thu và có báo cáo riêng", ông Phúc nói.

Báo cáo kết quả phân giới cắm mốc biên giới Việt - Trung

Khai mạc vào ngày 20/5 và dự kiến kéo dài 1 tháng, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII sẽ xem xét các báo cáo chung về tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2009, về ngân sách nhà nước, việc điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội...

Ngoài ra, Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng cho biết, Chính phủ sẽ trình thêm một số báo cáo riêng về các vấn đề thời sự nổi cộm gần đây, để xin ý kiến Quốc hội. Chẳng hạn, về nguồn vốn kích cầu, việc miễn, giảm, giãn thuế thu nhập cá nhân, dự án đầu tư tại Venezuela của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (thực chất đã ký kết từ trước)...

Mặc dù rút gọn thời gian, nhưng kỳ họp sẽ vẫn cố gắng đảm bảo chất lượng, dành thời gian bàn bạc, xem xét và quyết định những chủ trương lớn. Do đó, ngoài báo cáo tổng hợp, theo Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng, trong từng lĩnh vực, sẽ có những báo cáo cụ thể gửi riêng để đại biểu tham khảo, không cần đọc trước Hội trường.

Theo Chủ nhiệm Văn phòng QH Trần Đình Đàn, kết quả công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc, theo dự kiến, sẽ được báo cáo công khai tại Hội trường. Ngoài ra, có thể gửi tài liệu (đóng dấu mật) tới đại biểu, để tạo điều kiện cho đại biểu nắm bắt tốt hơn vấn đề.

Dự kiến ngày 19/6, QH sẽ thông qua Nghị quyết về bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ năm 2009; về miễn, giảm, giãn thuế thu nhập cá nhân.

VPQH sẽ trang bị cho đại biểu mỗi người 1 laptop loại hợp lý, có gắn tên đại biểu. Đồng thời, sẽ thí điểm gửi file điện tử một số tài liệu đến hòm thư đại biểu. Trong các ngày nghỉ của kỳ họp, sẽ tập huấn cho đại biểu cách dùng máy tính.

Cũng theo dự kiến của Văn phòng Quốc hội, các báo cáo về tình hình lao động thất nghiệp, mất việc làm trong 4 tháng đầu năm 2009 cũng như kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo nhiều năm qua sẽ được gửi cho đại biểu tự nghiên cứu.

BXTN:- Nên lưu ý thực trang công nhân Trung Quốc sang giành mất việc của người lao động Việt Nam, và được trả lương cao hơn nữa.

Ngoài ra, do tầm quan trọng của vấn đề, Quốc hội cũng sẽ dành hẳn 1 ngày để thảo luận về Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2008 - 2012, thay vì chỉ dành nửa ngày như chương trình dự kiến.

Thông qua Luật Quy hoạch đô thị

Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng sẽ biểu quyết thông qua 5 dự án luật: Luật Quản lý nợ công, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Bồi thường nhà nước, Luật Cơ yếu, Luật Lý lịch tư pháp.

Ngoài ra, Quốc hội cũng sẽ biểu quyết 8 dự án luật sửa đổi bổ sung khác như: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; Luật Di sản văn hóa... và thông qua Nghị quyết về Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2008 - 2012.

5 dự án luật khác sẽ được xem xét, cho ý kiến lần đầu, như Luật Viễn thông, Luật Khám chữa bệnh...

Ngoài phiên khai mạc, các phiên thảo luận khác về kinh tế - xã hội và chất vấn (2 ngày rưỡi) sẽ được truyền hình trực tiếp.

Theo Phó Chủ tịch Nguyễn Đức Kiên, chậm nhất vào ngày 19/5, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN (PVN) và các đơn vị có liên quan phải báo cáo giải trình trước QH các dự án đầu tư khai thác dầu khí tại Venezuela.

Trước đó, ngày 28/11/2008, tại thủ đô Caracas, Tập đoàn Dầu khí VN (PVN) đã ký bản ghi nhớ với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Venezuela để thành lập công ty liên doanh và hợp đồng khai thác dầu nặng tại lãnh thổ nước này. Dự án này có ý nghĩa quan trọng đối với PVN trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng hoạt động kinh doanh.

  • Lê Nhung


Nguồn: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/847645/
-->đọc tiếp...

vietnamchina.gov.vn

BXTN:- Blogger Linh tìm hiểu kỹ hơn, bình luận và cung cấp thêm thông tin về vụ việc website hợp tác thương mại Việt Trung bản tiếng Việt đăng các tin khẳng định quan điểm của Trung Quốc về biển đảo của ta.


Xung quanh chuyện website với tên miền Chính phủ Việt Nam đưa tin khẳng định chủ quyền với Tây Sa của Tàu, đã có nhiều blog bàn, như blog Lê Tuấn Huy (cũng là blog phát hiện đầu tiên), blog Osin, blog NVP. Bác Osin thì coi đó như con ngựa thành Troy. Bác NVP bàn về nó như minh họa cho sự yếu kém của cơ quan chính quyền.

Như bài báo trên Lao Động và thông tin từ website thì website này là website chung của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thuonwg) Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc. Website có hai tên miền: http://www.vietnamchina.gov.vn và http://www.chinavietnam.gov.cn/.
Việc duy trì hai tên miền thuộc hai chính phủ hai nước như vậy không biết có ngụ ý là chia sẻ thông tin chung nhưng mỗi nước sẽ chịu trách nhiệm tên miền của mình?

Website được xây dựng rất hoành tráng. Lễ khai trương website này có sự chứng kiến của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng Bí Thư- Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Trên Vnexpress đưa tin như sau: "
Tại lễ công bố website hợp tác kinh tế và thương mại Việt Trung, đích thân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Tổng bí thư - Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cùng nhấn nút kích hoạt trang thông tin điện tử quan trọng này."

3 nhà lãnh đạo

3 nhà lãnh đạo nhấn nút khai trương website hợp tác kinh tế và thương mại Việt - Trung. Ảnh: Thanh Thuỷ.

Nhưng thực tế cho thấy website tên miền http://www.vietnamchina.gov.vn đã đăng tải những thông tin rất bất lợi cho phía Việt Nam, cả về tranh chấp vùng biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Thật lạ lùng khi trang web của một cơ quan Chính phủ Việt Nam không đưa tin Việt Nam bổ nhiệm Chủ tịch huyện Hoàng Sa nhưng lại đưa tin Trung Quốc phản đối bổ nhiệm này và khẳng định "Trung Quốc và Việt Nam không tồn tại tranh luận đối với quần đảo Tây Sa. Cách làm kể trên của phía Việt Nam là trái phép và vô hiệu. Trung Quốc đã nghiêm chỉnh bày tỏ lập trường với phía Việt Nam về việc này”.

Cũng khó hiểu là website thương mại Việt-Trung mà phần Thời sự hầu như toàn đưa các tin chỉ liên quan tới Trung Quốc, và rất nhiều tin không liên quan tới thương mại như "Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào duyệt lực lượng hải quân đa quốc gia"; "Trung Quốc: ưu ái lực lượng hải quân "...

Nếu điểm lại phần "Thời sự" trên website này thì 20 tin trên đấy, không có được 1 tin liên quan tới Việt Nam. Có thể hiểu nếu đây là website của một cơ quan chính phủ Trung Quốc, chẳng hạn của Bộ Thương mại Trung Quốc hay của thương vụ sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam. Nhưng không thể hiểu được nếu đây là một website về giao thương Việt-Trung do hai Bộ thương mại hai nước cùng quản lý?

Và cả chủ tịch nước lẫn Tổng bí thư ĐCS của Việt Nam đều tham dự lễ khai trương cái website có tên miền chính phủ ta nhưng hình như là, do "nước bạn" quản lý hộ. Và nếu vào cái website đấy thì bạn sẽ thấy ngay đó là một mớ hổ lốn, một website chưa hoàn thiện dù đã khai trương gần 3 năm, còn thua một website do một sinh viên năm thứ nhất thiết kế.

Trớ trêu hơn, nếu vào thẳng trang chủ http://vietnamchina.gov.vn/ (không có www) thì lại ra một trang có tiếng Trung và tiếng Nga*. Tiếp tục click vào phần tiếng Nga thì ra trang giao thương Nga-Trung (?) nhưng lại được đặt tạm trên tên miền của chính phủ Việt Nam.

Xem ra "nước bạn" đã tự thiết kế các trang giao thương này cho một loạt các nước. Rồi "nước bạn" chia sẻ với chúng ta, và chịu trách nhiệm luôn cả phần nội dung cho trang web của một cơ quan chính phủ ta nhằm phục vụ việc tuyên truyền của nước bạn. Và cả hai nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam cùng tham dự lễ khai trương, cùng kích hoạt website đấy.

Và rồi Bộ Thương mại và sau đấy là Bộ Công thương để mặc trang web cho phía Tàu thỏa sức khai thác, kể cả đưa thông tin tuyên truyền có hại cho Việt Nam trên trang web (về danh nghĩa) có tên miền của chính phủ Việt Nam. Trong khi đấy thì các vị có thể chỉ tay mắng mỏ 137 trí thức phản đối khai thác bauxite là để cho bọn phản động lợi dụng (?).

Để sự việc trên xảy ra là do ngu xuẩn, là vô trách nhiệm, là tham lợi, hay là gì...chắc một số vị đang ngồi ở Bộ Thương mại cũ và Bộ Công thương hiện nay biết rõ
. Nhưng chắc rằng trong mấy ngày tới, sẽ chẳng có ai ở Bộ đó đứng ra giải thích nguyên nhân và nhận trách nhiệm. Và báo chí chắc hẳn cũng không dám đề cập tới việc Trung Quốc chẳng cần tới tin tặc vẫn kiểm soát được website cơ quan chính phủ ta.

Giặc ở đâu? Giặc ở trong nhà đó. Dấu lông ngỗng rắc từ Hà Nội tới Dak Nong, còn có nơi nào chưa rắc?


PS: Tính tới thời điểm khoảng 12:15 am, ngày 14/5/2009. Xem ra các "bạn" Tàu mượn tên miền gov.vn của chính phủ Việt Nam để thử chơi trang web đang thiết kế của họ?


Nguồn: http://everywhereland.blogspot.com/2009/05/vietnamchinagovvn.html
-->đọc tiếp...

Đồng tiền và chủ quyền

BXTN:- Blogger Lê Tuấn Huy phát hiện website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam do Bộ Thương mại Việt Nam cùng Bộ thương mại Trung Quốc cùng làm chủ quản, bản tiếng Việt đăng nhiều tin không hề liên quan đến hợp tác kinh tế thương mại mà là các tin khẳng định chủ quền của Trung Quốc đối với biển đảo của ta, trong đó có cả công hàm Trung Quốc phản đối bản đăng ký biển đảo mà ta làm chung với Malaysia. Trong bối cảnh thời sự cũng như thực trạng của truyền thông trong nước đối với chủ đề này thì sự tắc trách của Bộ Thương mại thật khó hiểu (???)


Mới đây, cùng với việc lập chính quyền huyện đảo Hoàng Sa, Đà Nẵng quyết định đưa lịch sử quần đảo này vào dạy cho học sinh từ năm học 2009-2010.

Chỉ một động thái giáo dục, cục bộ, ở cấp tỉnh thôi mà người có tâm đã mừng rơn, vì họ ý thức được rằng chủ quyền là không thể đánh đổi. Vậy mà với một động thái khác, về mặt chính trị, trên toàn cục, ở cấp cao hơn, thì ý thức đó dường như “có vấn đề”. Không đâu xa, chính là ở Bộ Công thương, nơi đang là đối tượng bất bình của dư luận do một Thông cáo Báo chí mà trong đó, đã kết luận rằng Kiến nghị ngày 17/04/2009 quanh việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, là “[h]oàn toàn bịa đặt và kích động”.

“Động thái khác” được nói đến là đây, là trang có tên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà tôi tình cờ tìm thấy từ đâu đó.

Những website về hợp tác kinh tế quả thực rất hữu ích, cho dù đối tượng có là nước nào, huống hồ Trung Quốc là một trong những đối tác “chiến lược”. Thế nhưng, trang này lại không thuần túy về kinh tế mà trước hết, là một trang chính trị!

click to comment

Tại trang chủ, hàng menu ngang và các mục về kinh tế, ngoài màu đậm được dùng làm nền cho tên của module, thì xem ra chúng không quan trọng bằng ba module về chính trị - xã hội, được đặt ngay trung tâm, là Thời sự, Chính sách và Luật pháp, và Thông tin mới. Khác với những mục kia, các bài tại ba module này được đưa tựa cụ thể như trên một trang tin báo chí, và nếu tin nào module chưa bị đẩy xuống do có bài mới, thì chỉ cần cái nhấp chuột đầu tiên sau khi vào trang chủ, là có thể đến ngay cái muốn đọc. Cũng khác nữa, tin ở đây được cập nhật thường xuyên, liên tục, trên tất cả lĩnh vực, từ chính trị đến văn hóa, quân sự đến y tế…, thuộc đủ hai mảng đối nội và đối ngoại của nhà nước Trung Hoa. Ngay cả khi vào mục Hợp tác hai bên ở cuối trang chủ, ta cũng thấy không chỉ “hai bên” và chỉ về kinh tế, mà là nhiều bên “đối tác“ của Trung Quốc, và trên mọi vấn đề, kể cả quân sự. Về nguồn tin, chính yếu là Tân hoa xã, các trang mạng Trung Quốc và CRI (Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc), ngoài ra là một số bài chủ đề quan hệ Việt – Trung tại Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Trang tin Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nếu xem việc ở các nước xã hội chủ nghĩa, chính trị là thống soái, và nếu lấy thái độ “hòa hảo” làm trọng, ta có thể tạm chấp nhận điều đó. Thế còn điều được minh họa ngay dưới đây, thì sao?

Trong khi Việt Nam phải theo dõi sát hải trình của Ngư Chính, thì bài này được đăng thản nhiên, gọi tên lãnh thổ Việt Nam bị chiếm đoạt bằng tên Trung Hoa:

click to comment

Và đây, sự thản nhiên như thế cũng thể hiện khi trực diện chống lại chủ quyền của Việt Nam:


click to comment

Còn đến đây thì có lẽ không cần thêm lời nào nữa:

click to comment

Ngay cả ngôn từ cũng được dùng theo đúng kiểu Trung Quốc dành cho một nhược quốc “nhãi nhép” hay một chư hầu, như trong bản tin về việc bổ nhiệm chủ tịch Hoàng Sa ở trên, hay như nói về Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh:

click to comment

Như vậy, có thể nói, đây thực chất là một trang tin, nhằm chuyển tải chủ trương, đường lối, và thông tin đối nội, đối ngoại của Trung Quốc bằng tiếng Việt, gắn liền và thông qua – mà nếu nói nặng hơn, là ngụy trang bằng – kênh thông tin hợp tác kinh tế. Nghiêm trọng hơn, nó được dùng để khẳng định chủ quyền Trung Hoa đối với lãnh thổ trên biển của Việt Nam mà Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt và tiếp tục hăm he chiếm đoạt, cũng như khẳng định chủ quyền của họ đối với vùng biển phía nam mà họ đòi vơ gần như kỳ hết về mình.

Phải chăng trên cơ sở hợp tác hai chiều và bình đẳng, tại phiên bản tiếng Việt, thông tin, quan điểm của Trung Quốc được trình bày, còn tại phiên bản tiếng Hoa, là thông tin và quan điểm của Việt Nam? Rất tiếc, không phải thế! Theo Lê Trung Thành, du học sinh tại Đài Loan, người Việt Nam duy nhất đã đến Bangkok để giương biểu ngữ “Hoang Sa & Truong Sa Belong to Vietnam” khi đuốc Olympics Bắc Kinh đi qua đây, là người mà tôi nhờ để đối chiếu hai phiên bản ngôn ngữ của website này, thì cho đến cuối tháng Ba vừa rồi, tại mục Thời sự của bản tiếng Hoa, tin này nọ của Việt Nam thì có nhưng tuyệt nhiên không hề có lập trường của Việt Nam về biển đảo – tương ứng với những sự việc đập vào ý thức người đọc Việt nam như vừa nêu – mà lại được đưa ra cho người đọc Trung Hoa.

Lại nữa, việc coi thường thành tố Việt Nam trong sự “hợp tác” này không chỉ về mặt nội dung, mà cả hình thức nữa. Trong lúc cập nhật theo ngày cho những thông tin, quan điểm Trung Quốc, sử dụng ngôn phong Trung Quốc, thì người ta lại không cần biết đến việc đã rất nhiều, nhiều tháng qua, Bộ Thương mại đã sáp nhập với Bộ Công nghiệp thành Bộ Công thương, sau Nghị định 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007.

Bên trên, tôi nói trang này được tìm thấy “từ đâu đó” là vì trên website của Bộ Công thương, kể cả trang con của Vụ Hợp tác Quốc tế, ta không thấy link hay banner đến một trang hợp tác cụ thể với một nước nào. Trên Trang tin Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (http://www.chinhphu.vn/ hay http://www.vietnam.gov.vn) và tại sơ đồ website của nó cũng thế. Trong khi đó, ở cuối các trang của Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đều có ghi:

click to comment

Và, ở phiên bản tiếng Việt, tên miền cấp 1 của nó là .vn, cấp 2 là .gov. Ở phiên bản tiếng Trung, tên miền tương ứng là .gov.cn. Như vậy, phiên bản tiếng Việt của trang này là một website thuộc hệ thống Cổng thông tin Điện tử Chính phủ.


click to comment

Đến đây có thể thấy rằng, Bộ Công thương (mà trước đó là Bộ Thương mại), trên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nhất quán, từ chỗ nhường chủ quyền thông tin cho Trung Quốc qua việc chỉ chuyển tải những thông tin đối nội, đối ngoại, chiến lược, quân sự… của nước họ, đến chỗ đánh mất cả chủ quyền quốc gia qua việc để cho những thông tin đó xâm phạm đến chính chủ quyền của Việt Nam! Việc biểu thị chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lãnh thổ đã chiếm đoạt của Việt Nam lại được thực hiện ngay trên lãnh địa của Việt Nam, bằng chính con người Việt Nam và phương tiện Việt Nam!

Trừ trường hợp website này là do Trung Quốc ngụy tạo hay đã bị Trung Quốc “cưỡng chiếm”, Bộ Công thương không thể chối bỏ trách nhiệm đã tuyên truyền cho Trung Quốc về chủ quyền mà họ chiếm đoạt đối với biển đảo Việt Nam!

Ai cũng rõ, việc làm ăn của người Việt với các đối tác Trung Hoa ngày một mở rộng và tăng cường, người ta tìm đến mọi cơ hội, từ lớn nhất đến bé nhất. Vậy hàng ngày, bao nhiêu doanh nhân Việt khi tìm kiếm cơ may từ trang web này, đã tiếp nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với “Tây Sa”, “Nam Sa” và “hùng tâm chính đạo” của họ?! Tác động chính trị và chủ quyền đến giới doanh gia, thông qua làm ăn, quả là một đòn ác hiểm vì họ là phần nào hiện thân của tầng lớp trung lưu, vốn giữ vai trò quan trọng trong những chuyển đổi xã hội.

Một vế trong tên gọi của Bộ Công thương liên quan đến mua bán. Đã mua bán thì gắn liền với tiền bạc. Vậy bộ này sẽ trả lời sao trước việc dùng chủ quyền làm cái “trao đổi” cho các “mối làm ăn”? Một lời đáp giả định phần nhiều sẽ phức tạp, nên nó sẽ khó mà có được từ cơ quan trung ương này; nhưng đối với công luận, sẽ đơn giản hơn nhiều: khi mua bán, đụng đến vài rẻo lãnh thổ, người ta có thể nói là “bán đất”, chứ đụng đến chủ quyền, người ta dứt khoát sẽ nói là bán cái thứ đối nghĩa với “đất” mà dù không nói ra, ai cũng biết là gì!

-

(Ghi chú: hiện trạng của các trang trên Website Hợp tác kinh tế… được nêu trong bài là tính đến 3.15h ngày 12/05/2009, các web Việt Nam khác là tính đến 9.15h ngày 12/05/2009)


Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA--?cq=1&p=895
-->đọc tiếp...

Bộ Công Thương đã từng mất cảnh giác

Ngày 28/4/2009 đại diện Bộ Công Thương họp báo có lời phê phán những người tham gia Kiến nghị về Bô Xít Tây Nguyên là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, … thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.

Tôi không tham gia ký Kiến nghị vì quan điểm của tôi có điểm khác, là có thể khai thác Bô Xít Tây Nguyên nhưng các công đoạn luyện bằng nước, xút, nung kết và điện phân thì nên làm tại hạ lưu ở bắc Đèo Cả; nhưng tôi rất trân trọng những người đã ký Kiến nghị vì họ thật sự yêu nước và cảnh giác vì sự an bình của đất nước.

Bống nhiên, đọc bản tin trên báo Thanh Niên ngày 7-7-2008, tôi thật sự thấy lo lắng:

Ngày 6-7-2008 động thổ: Dự án Khu liên hợp thép và cảng Sơn Dương (xã Kỳ Lợi, H.Kỳ Anh) là dự án 100% vốn nước ngoài. Chủ đầu tư dự án là Tập đoàn Formosa, một tập đoàn kinh tế đa ngành lớn nhất của Đài Loan.

Theo kế hoạch của nhà đầu tư, giai đoạn 1 của dự án có số vốn đầu tư lên tới 7,9 tỉ USD, bao gồm hai hạng mục: Nhà máy liên hợp gang thép công suất 7,5 triệu tấn/năm, với tổng vốn đầu tư 7,2 tỉ USD; Cảng biển nước sâu Sơn Dương, gồm 8 cầu cảng và 4,2 km đê chắn sóng, chuyên dùng phục vụ sản xuất nhà máy thép, công suất bốc dỡ 30 triệu tấn/năm, với tổng vốn đầu tư là 0,7 tỉ USD.”

Theo thông tin trên mạng, từ khi khảo sát đến lúc động thổ công trình, thời gian không quá 1 năm. Một đại công trình như vậy mà tiến trình xét duyệt lại quá nhanh, nên gần như các ban ngành có nhiệm vụ phản biện đều bị vô hiệu hóa. Dự án này thuộc Bộ Công Thương quản lý.

Năm 2003 khi về Hà Tĩnh với cương vị là Trưởng Ban cơ sở hạ tầng cảng Biển, tôi đã trực tiếp báo cáo với Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh là tiềm năng cảng lớn nhất của Hà Tĩnh là vùng phía nam Vũng Áng sau khi xây con đê nối mũi Ròn và hòn Sơn Dương dài 3km. Đó là vị trí cảng ổn định và tốt nhất bờ biển phía bắc của Việt Nam, không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà cả ý nghĩa quân sự (đọc bài “Tây Nguyên là yếu huyệt trên bộ, vậy trên bỉển đâu là yếu huyệt?”)

Tiếc rằng vịnh Sơn Dương hiện nay đã hoàn toàn bị kiểm soát bởi công ty Đài Loan. Phải chăng người Việt Nam chúng ta thiếu cảnh giác?

Để hiểu mối quan hệ Đài Loan và Trung Quốc xin đọc bản tin của Thông Tấn xã Việt Nam (Tin Tham khảo thứ Sáu, 01-08-2008; Số 175-TTX)

Trích: Đài Loan từng hổ trợ quân sự cho Trung Quốc ở Biển Đông—TTXVN (Hồng Kông 31/7). Tờ “Thái Dương” ngày 30 /7 dẫn nhận định của bình luận viên Cổ Lữ cho rằng Trung Quốc và Đài Loan đã từng thỏa thuận ngầm về vấn đề Nam Hải ( Biển Đông). Trong thời kỳ đối đầu gay gắt nhất giữa hai bờ Eo biển Đài Loan , Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc vẩn kiên trì lập trường Trung Quốc có chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông. Ngày 19/1/1974, tàu chiến của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tiến ra Hoàng Sa. Trước đây khi tàu chiến của PLA đi ra vùng biển giữa Đông Hải và Nam Hải ( Biển Đông) đều phải vòng qua vùng biển quốc tế ở Đông Nam Đài Loan. Làn này do tình hình quân sự khẩn cấp nên đã trực tiếp đi thẳng qua Eo biển Đài Loan. Quân đội Đài Loan sau khi phát hiện đã báo cáo với Tưởng Giới Thạch. Tưởng Giới Thạch nói “Chiến sự ở Hoàng Sa khẩn cấp” nên quân đội Đài Loan không những không nã pháo vào tàu chiến PLA, mà còn bật đèn chiếu sáng để tàu chiến PLA đi qua thuận lợi.

Tháng 3/1988, tàu chiến của PLA đã từng triển khai chiến đấu tại khu vực biển ở bãi Xích Qua (Việt Nam gọi là đảo Gạc Ma) thuộc quần đảo Trường Sa và cũng đã dừng chân ở đảo Thái Bình một tuần để bổ sung lương thực và nước uống. Khi đó Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Đài Loan Trịnh Vi Nguyên đã công khai bày tỏ “nếu lại nổ ra chiến tranh, quân đội Quốc dân đảng sẽ giúp quân đội Trung cộng chiến đấu” … Đảo Thái Bình nằm ở phía Tây Bắc Quần đảo Trường Sa, từng được gọi là “”Trái tim của Biển Đông “” cách Quần đảo Hoàng Sa 400 hải lý, cách Cao Hùng 860 hải lý , cách căn cứ Su bic của Philippin 440 hải lý , cách Singapore 540 hải lý. Vì thế có vị trí chiến lược rất quan trọng. Ngoài ra đảo Thái Bình cũng có giá trị trên các mặt an ninh vận tải, thông tin cứu hộ trên biển , thăm dò khí tượng biển Đông , thông tin về các tuyến đường bay quốc tế … Điều quan trọng hơn là dảo Thái Bình là đảo duy nhất ở quần đảo Trường Sa có nguồn nước ngọt , có thể cung cấp cho 2 đại đội sử dụng… Vào cuối nhiệm kỳ tổng thống Trần Thủy Biền đã cho xây dựng sân bay ở đảo Thái Bình , Trần Thủy Biền còn đi máy bay ra thăm đảo.Đảo Thái Bình có sân bay cũng có nghĩa là đã trở thành một” hàng không mẩu hạm không thể đánh chìm.” Hết trích dẫn

Bộ Công Thương có đọc bản tin trên không? Rõ ràng Bộ Công Thương đã mất cảnh giác khi cân đối giữa tiếp nhận đầu tư và an ninh quốc phòng. Xin đừng nghĩ rằng mình yêu nước hơn người khác. Ý kiến người khác là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.

Trong quá trình xây dựng đất nước, sự sai sót là không tránh khỏi. Có làm thì có sai. Nhưng quan trọng là phải biết nhìn nhận được điều mình sai, chỉ có nhận biết được sự sai mới có thể điều chỉnh và sửa sai. Đó là một chuyện bình thường trong quy trình làm việc trong khoa học cũng như trên thực tế.

Thương trường quốc tế là một chiến trường, không có bạn vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi Tổ quốc Việt Nam là vĩnh viễn. Chúng ta tôn trọng quyền lợi các dân tộc khác nhưng phải luôn cảnh giác bảo vệ độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

KS Doãn Mạnh Dũng

BXVN hiệu đính
-->đọc tiếp...

THẾ A!

Chuyện này đọc ở đâu, tôi không nhớ nữa, nhưng nôi dung thì không thể quên. Chuyện rằng, cạnh một ngôi chùa nọ có một cô gái chửa hoang, chín tháng sau sinh ra được một bé trai. Cô ta liền ôm con tới chùa và nói với vị sư chủ trì rằng: "Đây là con ông, hãy nuôi lấy". Vị sư nọ không một biểu hiện tỏ ra ngạc nhiên hay bất bình phản ứng, bình thản nói: "Thế a!", rồi thanh thản nhận đứa bé để nuôi. Nhiều năm sau, cô gái quay trở lại và nói: "Đứa bé không phải con ông, hãy trả lại tôi". Vị sư nọ cũng không một biểu hiện tỏ ra ngạc nhiên hay bất bình phản ứng, bình thản nói: "Thế a!", rồi thanh thản trao lại cháu bé cho cô gái.

Tu vậy mới gọi là đắc đạo. Coi khinh cả những vô lý ở đời. Tôi vẫn ước ao, giá gì mình có được một phần trăm tư chất của vị sư nọ để tĩnh tâm mà sống cho an nhàn.

Vậy nên, trước những phản ứng của dư luận lo ngại về ô nhiễm môi trường và nhiều hậu họa khôn lường của việc khai thác Bô- xít ở Tây Nguyên, ông Sếp lớn của Than khoáng sản Đoàn Văn Kiển nói một cách thiếu trách nhiệm rằng:" Ô nhiễm hay không, có làm mới biết"

Tôi bấm bụng: "Thế a!"

Ngày 28 tháng 4 năm 2009, ông thứ trưởng Bộ Công Thương, đại diện Bộ Công thương đăng đàn diễn thuyết, không rõ nhận được chỉ thị ở đâu, mạt sát những ai không ủng hộ việc khai thác Bô- xít ở Tây Nguyên rằng: "... bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích đông và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với những nội dung không chính xác".

Tôi cười khẩy: "Thế a!"

Đọc mẩu tin về cuộc tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình sáng ngày 4 tháng 5 năm 2009, trả lời chất vấn và tâm nguyện của cử tri: muốn Quốc hội đưa ra bàn thảo và quyết định cho tiếp tục triển khai hay dừng dự án khai thác Bô- xit ở Tây Nguyên, ông Trọng, người đứng đầu Quốc hội nước nhà trả lời một cách xanh rờn rằng :"Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla"..

Tôi nhếch mép: " Thế a!".

Trong cuộc viếng thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày chiến thắng Điện Biên Phủ vừa rồi của các quan chức trong chính phủ, trước ý kiến của Đại tướng: "Rất mong các đồng chí lưu tâm đến chuyện khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là địa điểm chiến lược quan trọng của đất nước, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng an ninh không chỉ với Việt Nam mà cả với Đông Dương". Đại tướng cũng bày tỏ quan ngại về việc lao động nước ngoài vào theo các dự án này. Ông Dũng, thủ tướng chính phủ khẳng định: "Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của Đại tướng".

Tôi bồn chồn: "Thế a!"

Vậy rồi, chỉ mấy ngày sau, ngày 9 tháng 5, năm 2009, trong cuộc tiếp xúc trước kỳ họp Quốc hội với cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, khi được hỏi về vấn đề bô- xít ở Tây Nguyên, ông Dũng, thủ tướng, đại biểu Quốc hội của Hải Phòng, lại tuyên bố: Tài nguyên đất nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bô-xít lớn thứ 3 thế giới, riêng ở Tây Nguyên trên 5 tỷ tấn. Và "Việc khai thác sẽ được chỉ đạo nghiêm túc và có sự kiểm soát và quản lý chặt chẽ để đạt hiệu quả kinh tế, đảm bảo bền vững về môi trường; giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên".

Tôi thở dài: "Thế a!".

Nhưng rồi đêm nằm, không ngủ được. Tây Nguyên với màu xanh bạt ngàn quyến rũ, nét đẹp hoang sơ tồn tại cả hàng ngàn năm nay đang bị cày xới, băm nát như cơ thể người bị ghẻ lở; văn hóa cồng chiêng đặc trưng độc đáo của bà con người dân tộc Tây Nguyên đang bị đe dọa, và cao hơn, sự mất còn của Tây Nguyên, đất thiêng của ông cha, mái nhà của Đông Dương, vị trí chiến lược vô cùng quan trọng ... ám ảnh tôi. Mình là con dân đất Việt, không thể thờ ơ với đất nước; lòng yêu non sông, lòng yêu tổ quốc này khiến tôi không thể dửng dưng : "Thế a!" được. Vậy là vùng dậy, buồn quá viết những dòng này để cảnh báo mình và những ai từng mũ ni che tai " thế a!" như tôi từng "thế a" trước vận mệnh dân tộc...

Bình thản "Thế a" trước mọi vô lý có thể giữ được cái thân mình, an toàn cho mình. Nhưng vô cảm, bàng quan với vận mênh đất nước, vận mệnh dân tộc, thiết nghĩ cũng có tội. Tội lớn.

3 giờ sáng ngày 11 tháng 5 năm 2009

ĐÌNH KÍNH

Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090512_thea.htm
-->đọc tiếp...

Bauxite, hay vận mệnh đất nước

(Viết tặng các vị đại biểu dự kỳ họp Quốc hội tháng 5 năm 2009)

Những người tự giác quan tâm đến việc nước đã có những phút hồ hởi, thở phào nhẹ nhõm khi được đọc những dòng này trong “Thông báo Kết luận số 245-TB/TW, ngày 24/4/2009 của Bộ Chính trị về quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025″:

- Phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, chế biến alumin, nhôm phải bảo đảm lợi ích trước mắt, lâu dài và bền vững của đất nước; có bước đi thích hợp, từ nhỏ đến lớn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bảo đảm hiệu quả kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh, quốc phòng.

- Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa.

- Tiếp thu các ý kiến đúng đắn của các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học, Ban cán sự Đảng, Chính phủ chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và khu vực Tây Nguyên trong từng thời kỳ; gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế để đạt hiệu quả toàn diện.

- Riêng Dự án Nhân Cơ, cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện.

- Việc lựa chọn công nghệ là một nội dung quan trọng; yêu cầu là phải sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trên thế giới.

- Chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước.

- Ban cán sự Đảng, Chính phủ chuẩn bị báo cáo vấn đề này với Ban Chấp hành Trung ương trong kỳ họp giữa năm 2009 và chỉ đạo việc chuẩn bị báo cáo Quốc hội trong phần báo cáo về kinh tế - xã hội năm 2009.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân dù phê phán một cách rất rụt rè: “Như nhiều người, tôi cũng đã mong đợi Kết luận của Bộ Chính trị được đưa ra sớm hơn, bởi một lẽ dĩ nhiên, ra sớm hơn sẽ tốt hơn“, nhưng cũng đã hoan nghênh: “Nhưng điều chính yếu là các ý kiến phản biện đã được lắng nghe và nhờ vậy đã có những điều chỉnh quan trọng.”

Vậy mà, phút hồ hởi vui tin này tuồng như chỉ rất ngắn ngủi và đã qua đi khi chỉ vài ngày sau đó, trên hệ thống truyền thông, báo chí của Đảng, thấy xuất hiện nhiều bài viết, nhiều bản báo cáo, nhiều thuyết trình… hoá giải hầu hết các huấn thị trên kia.

Hóa ra, người ta bảo rằng họ đã am tường từ trước, đã làm đúng đắn từ trước tất cả rồi, Bộ Chính trị không nắm được gì nên cứ ” Khổ lắm, biết rồi, nói mãi!”.

Song, thực tế thì sao?

* Thứ trưởng Bộ Công thương Lê Dương Quang nói: “Trong lĩnh vực sản xuất alumina - nguyên liệu luyện nhôm thì tất cả các nhà sản xuất lớn trên thế giới đều áp dụng công nghệ Bayer, đã được khẳng định qua gần 100 năm nay. Hiện nay, Mỹ, Úc, Pháp đều áp dụng công nghệ này. Ý kiến cho rằng công nghệ lựa chọn đưa vào Nhân Cơ và Tân Rai không phải công nghệ gốc, công nghệ nguồn là không xác đáng. Chưa kể, suốt bao nhiêu năm qua, công nghệ này đã được cải tiến, nâng cấp, được hoàn thiện hơn. Cả 2 dự án Nhân Cơ và Tân Rai đều lựa chọn công nghệ Bayer hòa tách bauxite ở nhiệt độ 145 độ C - áp suất 5 atm cho hiệu suất hòa tách đạt 85,5% và hiệu suất thu hồi alumina toàn bộ đạt 83,6%.”

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn nói: “Nhìn chung, bauxite của Tây Nguyên thuộc loại “phong hóa”, khác bauxite thuộc loại “sa khoáng” về nguồn ngốc địa chất. Như vậy, công nghệ và kinh nghiệm của nhà thầu về bauxite sa khoáng khác với công nghệ và kinh nghiệm về bauxite phong hóa. Chất lượng quặng bauxite: có ảnh hưởng rất quyết định đến tính khả thi về mặt kinh tế cũng như tính cạnh tranh của công nghệ được lựa chọn. Nhìn chung, công nghệ Bayer được áp dụng cho loại bauxite có chất lượng cao, có hàm lượng SiO2 thấp. …Theo đánh giá chung, chất lượng bauxite của VN thuộc loại thấp, So với bauxite của các nước trên thế giới, bauxite của Tây Nguyên thuộc loại chất lượng thấp nhất, đòi hỏi phải có thêm công đoạn tuyển rửa quặng nguyên khai để tăng modun silic, vì vậy tính cạnh tranh khi sử dụng công nghệ Bayer cũng là thấp.”

* Những người được hưởng lợi lớn từ Dự án Khai thác Bauxite Tây Nguyên ở Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) nói: “Hiện nay công ty chúng tôi đã tận thu được hơn 1,3 triệu tấn quặng bauxite. Tùy theo khu vực, có những nơi quặng nằm lộ thiên, có những nơi quặng nằm dưới lớp đất dày 0,5-3m. Chúng tôi dùng xe máy bốc hết lớp đất trên mặt đi, sau khi khai thác hết quặng bên dưới sẽ trả lại lớp đất về chỗ cũ và đảm bảo đất sẽ tốt hơn khi chưa khai thác quặng.”

Nhưng thực tế thì: tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) có một mỏ bauxite nhỏ đã được khai thác hàng chục năm nay. Diện tích bị đào bới lên tới 36ha nhưng sau khi khai thác, chỉ 2ha trong số được hoàn thổ. Đất hoàn thổ ở đây cũng chỉ thấy trồng bạch đàn và keo, song ngay cả hai loại cây này cũng phát triển kém.

* Thông báo Kết luận số 245- TB/TW, ngày 24/4/2009 của BCT nêu: “Phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxite, chế biến alumin, nhôm phải bảo đảm lợi ích trước mắt, lâu dài và bền vững của đất nước; có bước đi thích hợp.”

Một hội thảo khoa học nghiêm túc do GS. NGND Nguyễn Văn Chiển, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ nhiệm chương trình Tây Nguyên I chủ trì, có sự tham gia của một số nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh tế có uy tín như: Nhà văn Nguyên Ngọc; GS.TSKH Đặng Trung Thuận, Chủ tịch Hội Địa hóa Việt Nam; GS.TS Trần Nghi, Chủ tịch Hội Trầm tích, tổng Hội Địa chất VN; GS.TS Phạm Duy Hiển, Nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt; PGS.TS Khổng Diễn, Nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học; PGS.TS Hà Huy Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; PGS.TS Trần Đình Thiên, Quyền Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam… đã khẳng định: “Việt Nam không nên quá vội vã trong việc khai thác Bauxit và xây dựng các nhà máy sản xuất Alumin để xuất khẩu, bởi giá trị của Alumin chỉ bằng 12% giá trị của Nhôm kim loại. Bauxit là tài nguyên không tái tạo, khi khai thác và sử dụng thì nó sẽ vĩnh viễn mất đi vì thế chúng ta không nên vội vàng lãng phí tài nguyên mà hãy để dành Bauxit đến khi có điều kiện (điện năng, công nghệ…) để sản xuất thành các sản phẩm có giá trị cao như nhôm và các sản phẩm nhôm. Bài học kinh nghiệm từ ngành than cho thấy sau bao nhiêu năm khai thác và xuất khẩu, đến nay Việt Nam đã phải tính đến việc nhập khẩu 3,5 triệu tấn than / năm từ Indonesia.”

Lại nữa, vì biết rằng quá trình oxy hóa của nhôm kim loại sẽ giải phóng một lượng nhiệt cực lớn, các nhà khoa học coi nhôm kim loại là vật tích năng lượng tiềm ẩn vô giá. Công nghệ nano nhôm đang được tích cực nghiên cứu triển khai. Bột nano nhôm được xếp đầu bảng về năng lực phản ứng và hiệu quả tích năng lượng cao. Chỉ vài ba thập kỷ nữa, khi công nghệ nano nhôm phát triển mạnh thì chính bauxite Tây Nguyên sẽ là nguồn năng lượng dự trữ khổng lồ cứu vãn tình hình đói năng lượng cho nước ta khi dầu mỏ, than… đều sẽ cạn kiệt.

Cho nên, muốn “bảo đảm lợi ích trước mắt, lâu dài và bền vững của đất nước” thì chưa nên xúc tiến đề án khai thác bauxite Tây Nguyên một cách ồ ạt như đang bắt đầu triển khai.

Tinh thần “Dân biết, dân bàn” dấy lên mạnh mẽ như vừa qua, đã đóng góp cho các nhà lãnh đạo những ý kiến hết sức xác đáng với đầy trí tuệ và tâm huyết nhẽ ra phải được những người lãnh đạo cao nhất chân thành cảm ơn và nhiệt liệt biểu dương.

Trớ trêu sao, người ta lại chỉ thị mở chiến dịch phản kích họ một cách rất tàn nhẫn!

- Báo Nhân Dân, số ra ngày 26-4-2009 đăng: “Cần cảnh giác và có thái độ rõ ràng, kiên quyết với những mưu toan chính trị hóa vấn đề của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, muốn chia rẽ nội bộ chúng ta; xuyên tạc sự thật, lợi dụng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim, khối óc mỗi người để kích động hòng thực hiện những mưu đồ xấu xa của họ.”

- Tờ Tuần Việt Nam đăng: “Chúng ta không thể đồng tình và cần cảnh giác với lối phản biện có tính chất chia rẽ xã hội, thù địch và hằn học của những kẻ tiểu khí nhằm thỏa mãn những toan tính vụ lợi cá nhân, vì xét cho đến cùng đó chỉ là lối phản biện té nước theo mưa rất vô trách nhiệm và không có hiệu quả.”

- Báo cáo của Bộ Công Thương viết: “Cả ba nội dung trong kiến nghị (do giáo sư Nguyễn Huệ Chi, GSTS Nguyễn Thế Hùng, nhà giáo Phạm Toàn khởi xướng, đã thu thập được trên hai vạn chũ ký) đều không có cơ sở và không đúng tình hình thực tế. Hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động“. “Điều đáng buồn là các nhà khoa học, do thiếu thông tin, lại ký vào một bản kiến nghị sai trái như vậy.”

- Thứ trưởng Lê Dương Quang quy chụp các người phản biện là: “Rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng.”

Không kể các nhà báo có thể là được thuê viết, phát biểu của ông Lê Dương Quang phải được đánh giá là hàm hồ và hỗn xược. Chẳng nhẽ bao nhiêu tên tuổi như: đặc đẳng công thần Võ Nguyên Giáp; những trí thức lão trượng như Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Chiển, Hoàng Tụy, Trần Văn Khê, Nguyễn Trung…; những lão tướng cách mạng như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên…; những nhà khoa học trứ danh như Nguyễn Thanh Sơn, Phan Đình Diệu, Chu Hảo, Lê Văn Cương, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh…; những nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Dương Tường, Bùi Minh Quốc, Trần Văn Thủy, Hoàng Hưng, Phạm Đình Trọng, Lê Phú Khải…; những trí thức giầu lòng yêu nước đang ở nước ngoài như Ngô Bảo Châu, Ngô Vĩnh Long, Trần Văn Thọ, Trịnh Xuân Thuận, Vũ Quang Việt… cùng hàng trăm, hàng vạn người đã đứng tên trong các bản Kiến nghị đề ngày 3 tháng 3 năm 2009 và Kiến nghị đề ngày 17 tháng 4 năm 2009 không đủ làm cho ông thứ trưởng hậu sinh này dù không còn đức khiêm tốn vẫn cần phải biết nghiêm túc lắng nghe và thận trọng trước khi nói sao?

Cũng thật đáng tiếc là ngay cả giáo sư Nguyễn Ngọc Trân dù biết thừa nhận “những ý kiến lạc lõng này chỉ càng làm sáng hơn các phản biện xây dựng và khách quan” vẫn nói như để trả ơn những ai đã cơ cấu mình vào làm đại biểu Quốc hội: “trong thời gian qua, bên cạnh những ý kiến phản biện tâm huyết và khoa học của các giới, đã có những phát biểu mang tính xuyên tạc của một số người muốn lợi dụng vấn đề bô-xít để kích động, chia rẽ dân tộc“! (Có thể đúng như giáo sư nói: “đã có những phát biểu mang tính xuyên tạc của một số người muốn lợi dụng vấn đề bô-xít để kích động, chia rẽ dân tộc“, tuy nhiên số ý kiến như thế có là bao và đáng kể gì.)

Thật ra thì, không ai lạ gì cái ngón nghề sở trường này của nhà cầm quyền. Mồi khi bị búa dìu dư luận chĩa mũi nhọn phê phán quyết liệt vào, họ thường vẽ ra một bóng ma ghê rợn để hù dọa nhân dân, đồng thời dùng đó vừa làm khiên chắn cho họ, vừa để đánh lạc mục tiêu.

Trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thành khẩn hứa sẽ trình Quốc hội các dự án khai thác bauxite ở Đak Nông và Lâm Đồng thì chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lại phủi bỏ: “Dự án Nhân Cơ có tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đôla, chưa thuộc dự án phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội.”

Là chủ cơ quan lập pháp của Nhà nước nhưng phải chăng ông Trọng không nhớ rằng theo Nghị quyết của Quốc hội, bất cứ dự án, công trình quan trọng quốc gia nào thuộc về một trong năm tiêu chí sau đây thì đều phải được Quốc hội duyệt xét:

1 - Quy mô vốn đầu tư từ hai mươi nghìn tỷ đồng Việt Nam trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên;

2 - Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường;

3 - Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác;

4 - Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa;

5 - Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

Dự án Khai thác Bauxite Tây Nguyên không rơi vào điều quy định số 1 nhưng vào điều 2 và điều 4.

Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình ngày 4 tháng 5 vừa qua, ông Trọng còn quả quyết rằng: chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên “đã được thống nhất trong các Nghị quyết 9, 10 của Đảng“.

Ông Trọng đã ngụy biện!

Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX còn ghi đó: “Khai thác chế biến các loại khoáng sản: phát triển công nghiệp khai thác bauxite, luyện alumin và chế biến nhôm theo một trong hai phương án: sản xuất 300 nghìn tấn/năm alumin để điện phân 75 nghìn tấn nhôm sử dụng trong nước; sản xuất 1 triệu tấn alumin cho xuất khẩu, giai đoạn sau nâng lên 3 triệu tấn. Đầu tư khai thác và tuyển quặng đồng, khai thác inmênit, đá quý, vàng, đất hiếm; xây nhà máy luyện kẽm Thái Nguyên, luyện đồng ở Lào Cai.”

Không hề nói khai thác bauxite ở Tây Nguyên, càng không hề nói phải đưa Trung Quốc vào Tây Nguyên.

Vậy mà trong chuyến đi Trung Quốc năm 2008 Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thỏa thuận: “Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bauxite Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ ‘Hai hành lang, một vành đai kinh tế’ và các dự án lớn khác. Hai bên khẳng định tăng cường hợp tác trong các cơ chế kinh tế khu vực, liên khu vực và quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới.

Sao ông Nông Đức Mạnh lại làm như vậy!

Trước khi quyết định mời Trung Quốc vào làm bauxite ĐakNông ông đã bàn kỹ ở Trung ương chưa? Đã tham khảo ý kiến các nhà khoa học chưa? Đã thông qua Quốc hội chưa?

Cho nên người ta thấy đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã nén một tiếng thở dài, nghẹn ngào thốt lên: chuyện ấy đã an bài!

Có ai đó đặt câu hỏi: ông Mạnh đã bị lừa, hay đã bị mua? Hay là cả hai?

Không bị lừa thì không thể nào lại dại dột như thế!

Bị mua thì có thể bằng cả hai giá. Cái giá chính trị: lời hứa bảo vệ ngai vàng. Và cái giá tài chính không biết là bao nhiêu?

(Dân gian truyền tụng: “Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất Đảng”. Khẩu lệnh “thiên đình”: “Trung với Đảng” (chứ không phải “Trung với Nước” như lời Hồ Chủ tịch). Có nghĩa là thà mất Nước chứ quyết không để mất Đảng! Mất Tổng Bí thư tức là mất Đảng chăng?).

Vậy là ông Mạnh đã đặt Đảng vào thế kẹt của “chuyện đã rồi”. Làm theo lời khuyến dụ chân chính để bảo vệ quyền lợi Tổ quốc thì Tổng Bí thư thất hứa với Bắc triều. E rằng, vấn đề không chỉ là danh dự và uy tín.

Cho nên, chẳng cần bàn thảo thêm nữa làm gì. Như tiếng “Sát Thát” ngày nào, toàn dân Việt Nam hãy hô xé trời khẩu lệnh này: “Không được cho Trung Quốc vào Tây Nguyên!

“Không được cho Trung Quốc vào Tây Nguyên”, bởi đã thêm một lần ta nghe lời căn dặn thiết tha hôm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thăm Võ Đại tướng nhân kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ: “Rất mong các đồng chí lưu tâm đến chuyện khai thác bauxite Tây Nguyên. Đây là địa điểm chiến lược quan trọng của đất nước, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng an ninh không chỉ với Việt Nam mà cả với Đông Dương.

Tây Nguyên đã từng là hậu cứ giúp vua Quang Trung chống quân Thanh và từ đây tấn công đè bẹp Chiêm Thành khi người ta muốn tạo thế gọng kìm giúp nhà Thanh quấy phá nước ta.

Tây Nguyên đã tạo thế chân kiềng kết nối ta với các nước bạn Lào và Campuchia trong suốt mấy cuộc kháng chiến vừa qua.

Tây Nguyên đã khởi đầu cuộc tháo chạy của quân đội Mỹ và mở màn cho chiến dịch dẫn đến đại thắng 1975.

Các nhà quân sự Pháp đã đánh giá: “Tây Nguyên là xương sống Việt Nam và là chỗ dựa không gì hơn của đất nước này. Nếu mất nó là Việt Nam mất nước, nếu giữ vững nó thì không kẻ thù nào có thể đánh bại được họ.”

Vậy mà, ai không thể không giật mình thảng thốt khi nghe thiếu tướng PGS TS Lê Văn Cương, đương kim viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Công an thông báo: “Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Đắc Nông với thời gian 99 năm và Trung Quốc đã làm chủ các dự án lớn ở tỉnh Atapư, cực nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại Ngã ba Đông Dương)”.

Và, thiếu tướng cảnh báo khẩn thiết: “Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia. Không rõ những người quyết định cho Trung Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không?”

Người ta không chỉ lo lắng mà còn rất nghi ngại. Đúng như tâm trạng của nhà văn Nguyên Ngọc: “Theo tôi, người ta vẫn giữ ý định của người ta muốn làm vì do những áp lực hay do những cái gì đấy… cho nên cái thông báo (ngày 24/4/09 của BCT) nó cũng phản ánh một sự giằng co.”

Không nghi ngờ sao được khi, cho đến 24 tháng 4 năm 2009 Bộ Chính trị còn thông báo: “Chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài; sử dụng lao động trong nước“, vậy mà cờ quạt, biểu ngữ Trung Quốc đã trưng đỏ Tây Nguyên.

Người ta bảo số Trung Quốc mới kéo vào Tây Nguyên chỉ khoảng 600, nhưng có nguồn tin cho biết đã lên tới hàng ngàn. Phóng viên báo Nhân Dân ở Tân Rai viết trong báo cáo: “Hầu hết số lao động Trung Quốc đang có mặt tại công trình là lao động phổ thông.”

Chính trung tướng Đồng Sĩ Nguyên cũng vô cùng bức xúc: “Tại sao có chuyện dự án nước ngoài thắng thầu và đưa lao động phổ thông của nước họ vào làm việc ngang nhiên tại Việt Nam, kể cả trường hợp không có giấy phép lao động?”

Người Việt Nam rất nể trọng nước Trung Hoa láng giềng khổng lồ đã từng sớm có nền văn minh cổ đại huy hoàng; cũng rất yêu một dân tộc tài hoa, cần mẫn đã từng có lúc chia ngọt sẻ bùi, nhưng trước những hành vi xâm lấn không chỉ Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mà cả thác Bản Giốc, suối Phi Khanh (Mục Nam Quan)… với thái độ trịch thượng, bằng những thủ đoạn vừa quỷ quyệt, vừa đê tiện thì không thể không cảnh giác và sẵn sàng đối phó.

Nhưng, không hiểu sao người ta lại lén lút đưa Trung Quốc vào Tây Nguyên và khẩn trương kiến tạo con đường cao tốc rộng rãi nhất, hiện đại nhất Việt Nam dẫn thẳng từ Trung Quốc đến thủ đô Hà Nội?

Đất nước này thực ra đã và đang chịu sự “đô hộ mềm” của Trung Quốc qua huấn thị: “Việt Nam không nên sốt sắng gia nhập WTO” (mà phải để cho Trung Quốc vào trước đã). Huấn thị này được cơ quan tình báo Hoa hải ngoại truyền qua Báo cáo của Bộ Quốc phòng (thực chất là của Tổng cục II) tại Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng ngày 24 tháng 8 năm 2004. (Vì những huấn thị kiểu như thế, mặc dù Thủ tướng Phan Văn Khải đã sang đến New Zeeland chuẩn bị ký kết thỏa ước Việt Nam-Hoa Kỳ, mở đường cho Việt Nam vào WTO, vẫn bị TBT Lê Khả Phiêu điện sang bắt phải đình hoãn. Cho nên, đâu phải chỉ Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam!)

Qua cái gọi là cùng chung ý thức hệ. Qua các hội nghị, hội thảo song phương Trung-Việt về Văn hóa-Tư tưởng-Lý luận.

Qua chủ trương: “Hai bên cùng lập nhiều cơ chế hợp tác giữa các bộ, ngành, giữa các địa phương giáp biên giới hai nước, đặc biệt là cơ chế Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương để chỉ đạo và điều phối sự hợp tác Việt Nam-Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực.” (Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cuối tháng 5 năm 2008)

Qua “Đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo”… (Có người còn bảo Trung Quốc tác động cả vào cơ cấu nhân sự cấp cao của ta, cụ thể như trường hợp Nguyễn Chí Vịnh.)

Trong bài viết đăng trên tập san Tổ Quốc số 63, luật sư Trần Lâm nêu kiến nghị giải pháp tách ĐCSVN làm hai. Tạm hình dung là sẽ có một Đảng Tiến bộ và một Đảng Bảo thủ. Sáng kiến này kể ra rất hay. Có điều e ngại là ngộ nhỡ xẩy ra tình trạng Đảng Tiến bộ dồn Đảng Bảo thủ vào thế sống còn thì có thể chăng sẽ có lời mời, và… xe tăng, thiết giáp Trung Quốc sẽ rầm rập trên đường cao tốc hiện đại nhất Việt Nam kia để không chỉ đến Hà Nội mà còn nhanh chóng phối hợp cùng cánh quân Trung Quốc Tây Nguyên tiến qua Sài Gòn (không cần lập căn cứ địa đầu tiên ở Thanh Hóa quê tôi như bản kế hoạch tác chiến đã công bố trên các mạng Trung Quốc hồi năm ngoái).

Julius Fučík đã từng tha thiết: “Nhân loại hỡi, tôi yêu tất cả mọi người, các bạn hãy cảnh giác“.

Không phải chỉ thế hệ trẻ cần thức tỉnh. Hỡi các bạn già chúng ta, dù sức tàn lực kiệt, hãy cứ vẫn phải mang tinh thần dũng sĩ mà soi xét, mà suy ngẫm và sẵn sàng hành động.

Sự tưởng tượng kỳ quái kia mong sao chỉ là hoang tưởng. Nhưng, không thể không đề phòng, không thể không sẵn sàng, bởi thực tế trước mắt đã cho ta thấy chỉ riêng chuyện bauxite thôi mà ta đã phải đặt vấn đề “Bauxite, hay vận mệnh đất nước”!

Hà Nội 9 tháng 5 năm 2009

© 2009 Nguyễn Thanh Giang


Nguồn: http://www.talawas.org/?p=4341


-->đọc tiếp...