Về dự án khai thác bauxite Tây nguyên: Thời gian là quan tòa của trời, đất
Posted On Saturday, May 16, 2009 at at 7:10 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Nhân dân và lịch sử rất công bằng
Vào giữa thập niên 1980 của thế kỷ trước (1984-1986), sinh thời, có lần Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng đến Nha Trang. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp và hỏi ông: “Thưa thầy, hiện tình đất nước thế này, liệu người ta có ghi vào sử sách để lại cho đời sau biết không ạ!”. Sau giây lát trầm ngâm, GS. Trần Quốc Vượng bảo rằng: “Các cậu cứ yên tâm, nếu sử chính thống không ghi, thì vẫn còn có sử dân gian. Nhiều người viết sử dân gian, hàng ngày vẫn âm thầm ghi chép đấy!”. Thì ra là vậy. Thảo nào có bao nhiêu là chuyện thâm cung, bí sử của đời này, đời kia, triều đại này, triều đại khác vẫn được người đời truyền tụng. Tôi liền thể hiện cái ý đó của GS. Trần Quốc Vượng trong mấy vần thơ:
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng, năm này
Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước
Tại sao Chu Văn An phải dâng sớ chém bảy gian thần?
Tại sao ba tộc nhà Ức Trai mắc họa?
Sự thật?
Sự thật có khi không được ghi trong sử
Nhưng lại được nhân dân chuyên chở đến muôn đời
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng năm này
Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước… [1]
Vâng! Với sử dân gian thì không thể ém nhẹm, giấu giếm, đổ vấy trách nhiệm cho người khác được. Chỉ những kẻ mất trí, hoặc vô học, ngu xuẩn mới không biết sợ sự phán xét của hậu thế. Trong kho tàng văn hóa dân gian, để răn dạy con cháu biết sống làm người tử tế, không để lại tiếng xấu cho đời sau, cha ông ta không cần nhiều lời, không cần phải tràng giang đại hải bằng tuyển tập này, toàn tập nọ, chỉ vẻn vẹn mấy chữ thôi, mà hàm ý thật thâm hậu, sâu sắc như: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”, hoặc “Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, v.v. Còn “bia miệng” trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, thì quả là công hiệu và đắc dụng vô cùng. Mọi chuyện tốt, xấu ở bất cứ đâu, từ tổng thống đến dân đen nếu mù quáng làm bậy đều được ghi chép và lập tức siêu tốc ngay trên mạng thông tin quốc tế, bất chấp thời gian, bất chấp không gian, tồn lưu vĩnh cửu. Thì, hỡi ôi! Dù các bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, như Hít-le, như … từng trùm sự sợ hãi lên cả một đất nước, cả một dân tộc, có tái thế, cũng đừng hòng bịt miệng nổi trăm họ và càng không thể lòe bịp, mị dân, đốt sách và chôn sống trí thức được nữa.
Xưa nay, ở mọi thời, người có văn hóa (xin được lưu ý, có học vị, bằng cấp cao chưa hẳn là văn hóa đã cao) dù bất kỳ làm nghề gì, ở cương vị nào, quan lại hay dân thường, đều lấy sự phán xét của các thế hệ mai sau làm điều phải sợ, mà tích đức, tu nhân. Dân thường thì mong được để tiếng thơm trong gia phả tộc họ. Bậc quân vương thì muốn được lưu danh ngời sáng trong sử sách, chứ không phải là thứ hôn quân, bạo chúa bị hậu thế đời đời nguyền rủa. Còn người cầm bút muốn không bị người đời và đồng nghiệp các thế hệ kế tiếp coi khinh, thì phải tránh xa thứ nhân cách bồi bút, nịnh hót, xun xoe, cơ hội, láu cá, tô hồng… Để trước khi về với cát bụi, không phải lội ngược dòng đi tìm cái “tôi” đã mất. Để khi sức đã tàn, lực đã kiệt, bút đã gỉ, mực đã khô rồi, nhìn lại đống tác phẩm suốt một đời cầm bút, không phải cay đắng nhận ra rằng, toàn những thứ vô bổ, không lấy được “bụm” nào, chỉ đáng vứt sọt rác…
Vâng! Quả là đáng sợ lắm cái sự “hùm chết để da …”, đáng sợ lắm cái sự “trăm năm bia đá thì mòn …”. Chuyện kể rằng, có nhà văn nọ, cũng thuộc hàng “đại thụ” của giới văn chương nước nhà, được tác giả Chân dung nhà văn “mó” tới. Khi lâm trọng bệnh, biết không qua khỏi, thấy Xuân Sách đến thăm, ông rất mừng. Sau một hồi đắn đo, ông mới nói “Cậu viết như vậy cũng được thôi, nhưng “tha” cho mình mấy chữ được không?”. Trong hoàn cảnh ấy, tác giả Chân dung nhà văn rất bối rối, đến bên ông: “Thưa anh, muộn mất rồi, sách đã phát hành hết, làm sao mà sửa được…”. Thế đấy, chỉ mấy chữ liên quan đến đời người, đời văn thôi, mà trước lúc về với tổ tiên, nhà văn đáng kính nọ còn áy náy, day dứt, biết sợ. Huống chi là những văn bản vài ba trăm chữ liên quan, thậm chí làm mất cả một phần chủ quyền lãnh thổ, hoặc dày hàng vạn chữ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quốc kế dân sinh, đến vấn đề sinh tử của đất nước và còn hệ lụy đến cả muôn đời con cháu mai sau?
Chuyện cũng kể rằng, có một dòng họ, suốt mấy trăm năm, đời này truyền đời khác kiên trì kêu oan, quyết rửa bằng được một vết nhơ mang tội giết vua cho bậc tiền nhân của họ, là một đại công thần dưới triều đình xưa.
Vâng! Nếu thời gian là quan tòa rất vô tư của trời đất, phán quyết việc đúng sai, thì NHÂN DÂN và LỊCH SỬ bao giờ cũng công bằng với tất cả. Một Trần Thủ Độ có công sáng lập triều Trần, thay thế triều Lý đã đến thời mục ruỗng, thối nát, nhưng cái cách ông đối xử với con, cháu triều đại cũ thì không được nhân dân chấp nhận. Và, dù có công to, ông vẫn không được nhân dân lập đền thờ cũng là điều dễ hiểu. Nhưng với một khai quốc đại công thần Ức Trai uyên bác, chứa chan lòng yêu nước thương dân, dù oan khuất dậy trời xanh, thì vẫn được nhân dân đời đời thờ phụng.
Trở lại với các dự án khai thác bauxite ở Tây nguyên hiện nay và dòng sử dân gian, như ý của cố GS. Trần Quốc Vượng. Phải khẳng định ngay rằng, việc đúng sai đã quá rõ rồi. Mọi việc còn lại là của người chép sử và quyết định cuối cùng là của nhân dân với người đại diện cho mình là Quốc hội. Xin có vài lời bày tỏ:
Sử dân gian sẽ chép rằng: Vì đại sự Quốc gia, cái ý tưởng khai thác bauxite ở Tây nguyên đã phải “chết” từ gần 30 năm trước. Sau cũng ngần ấy năm, vùng cao nguyên hùng vĩ, với không gian văn hóa cồng chiêng rất đáng tự hào này, đã đưa nước ta trở thành một trong những “cường quốc” xuất khẩu cà phê của thế giới. Nhưng cái từ bauxite này lại bắt đầu “sống” lại vào ngày 3/12/2001 với chữ ký của ông Tổng Bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh, trong bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, nhân chuyến ông Nông Đức Mạnh thăm Bắc Kinh. Tiếp đến là sự nhất trí cao, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, của lãnh đạo Đảng và nhà nước. Cụ thể là phát biểu của các ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày, tháng, năm tại …; ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ngày, tháng, năm, tại …; ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời cử tri thủ đô ngày, tháng, năm, tại …; của ông Bộ trưởng Bộ Công thương, của ông … của ông … và của ông … vân vân.
Sử dân gian cũng ghi rõ: Báo chí trong nước với lực lượng hùng hậu ngót một ngàn tờ báo và tạp chí các kiểu, cùng đội ngũ người cầm bút đông vào hàng nhất nhì thế giới, thì hầu như im thin thít, ngoài một vài bài lẻ tẻ trên báo điện tử được cấp phép và trên vài trang Blog cá nhân. Còn các tờ báo mạng khác của Việt kiều ở nước ngoài thì phản ứng quyết liệt, với nhiều bài phân tích có tính khoa học cao, đầy trách nhiệm của các học giả trong và ngoài nước.
Sử dân gian cũng ghi những trang rất đậm dành cho trí thức Việt Nam, bộ phận ưu tú nhất của cộng đồng, rằng: Tuy có một bài báo mạng với cái tít rất khó chịu“Trí thức Việt Nam, đứa con hoang mất nết của dân tộc”, nhưng một số nhà khoa học hàng đầu trong nước, chỉ một thời gian ngắn đã kịp thời tập hợp được lực lượng đông đảo những nhà khoa học tên tuổi, đầy uy tín, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, những nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn, nhà giáo … giàu tâm huyết và trách nhiệm với dân, với nước cùng ký tên trong bản kiến nghị chung gửi giới lãnh đạo cao nhất, đề nghị dừng ngay các dự án khai thác bauxite, để trừ mối đại họa lâu dài cho đất nước, vân vân và vân vân.
Còn với Quốc hội, thì sử dân gian sẽ chép rằng: Theo Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống công quyền, là đại diện cho quyền lực của Nhân dân. Dù là Quốc hội nào, độc đảng hay đa đảng, đều phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về những phán quyết của mình. Nếu thực sự là đại diện tối cao của nhân dân, Quốc hội khóa 12 phải có những phán quyết ở tầm trí tuệ cao về các dự án khai thác bauxite này. Mặc dù ông Nguyễn Phú Trọng trả lời với cử tri thủ đô như vậy, nhưng đó chỉ là ý kiến cá nhân. Ông ta cũng chỉ được bỏ một lá phiếu. Tuy nhiên … và … nhưng … (phần này sử dân gian còn để giấy trắng, vì phải chờ diễn biến thực tế về vấn đề bauxite tại các kỳ họp sắp tới của Quốc hội). Khi ấy, vị dân biểu nào nói gì, nói ra sao, có tâm huyết, trách nhiệm với lịch sử, với đất nước, với nhân dân đến mức nào, sẽ được sử dân gian ghi chép rất chi tiết, đầy đủ, thậm chí chụp cả ảnh, ghi thành phim … để lưu truyền cho hậu thế.
Cuối cùng, người viết bài này chỉ xin được nhấn mạnh một điều mà chắc chắn quý vị đang nắm trọng trách của đất nước hiện thời, như các ông: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, cùng quý vị khác trong Bộ Chính trị… đều phải thừa nhận rằng: THỜI GIAN LÀ QUAN TÒA CỦA TRỜI, ĐẤT. NHÂN DÂN và LỊCH SỬ RẤT CÔNG BẰNG.
Nguyễn Chính
HD Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
[1] Bài thơ này đã đăng trên tạp chí Văn nghệ Nha Trang năm 1987, vào lúc mà người ta hay nói đến việc văn nghệ được “cởi trói”.
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090515_thoigianlaquantoa.htm
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản)
Posted On Friday, May 15, 2009 at at 10:45 PM by Bô-xít Tây Nguyên
1. Tai sao ong phan doi du an khai thac bo-xit tai Tay Nguyen?
Không phải chỉ riêng tôi mà bất kỳ người Việt có lương tri nào cũng phản đối, vì đây là một dự án chưa thấy đem lại lợi ích gì cho đất nước mà nguy cơ tàn phá môi trường, tiêu diệt hệ sinh thái phong phú, và để lại những hậu quả nghiêm trọng về nguồn nước độc hại cho không chỉ riêng Tây Nguyên mà cả một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam Việt Nam, và không phải chỉ trong dăm mười năm mà trong ba bốn mươi năm hoặc lâu hơn thế, thì đã rành rành ra đấy. Đáng nói hơn nữa là nó đảo lộn đời sống của đồng bào người Thượng, thêm nhiều tập quán văn hóa lâu đời của nhiều tộc người Tây Nguyên rồi sẽ bị xóa bỏ. Sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu người các dân tộc ở đây không còn không gian truyền thống để sinh hoạt và không còn duy trì được bản sắc văn hóa của mình? Anh tôi, nhà dân tộc học Từ Chi trước đây gần 20 năm đã cảnh báo việc đưa người Kinh lên thâm nhập Tây Nguyên, sẽ làm biến chất cái làng cổ truyền Tây Nguyên qua việc “tập thể hóa” đất đai du canh của họ, đẩy người bản địa vào tận chân núi, lại “soán” luôn Ông “Giàng” (Yang) mà họ thờ phụng hàng bao nhiêu đời, thay vào đấy bằng một thứ chủ nghĩa vô thần cực đoan kỳ cục mà đến bây giờ người Kinh, ngay cả những vị quan chức cấp tối cao, tôi mạnh dạn mà nói thế, cũng không sao “đeo đẳng” mãi được nữa! Một tình trạng đến thế mà còn kéo dài thì nhất định trước sau sẽ xảy ra “sự cố”. Rất tiếc, điều anh tôi cảnh báo đã bị các nhà chính trị bỏ ngoài tai và như ta thấy, cách đây một số năm đã được chứng thực tại Tây Nguyên. Nay, người ta lại đang làm một chuyện tàn phá mới đối với Tây Nguyên mà vẫn tuyệt nhiên không chịu rút ra bài học không xa, có gốc gác là sự thiếu hiểu biết và thiếu thật lòng tôn trọng văn hóa Tây Nguyên. Họ chỉ biết có cái lợi thiển cận mà cái lợi ấy cũng rất mơ hồ, và nếu dùng công thức 50/50 như lời ông Đoàn Văn Kiển Tập đoàn Than khoáng sản thì còn là vô trách nhiệm! Đem đất nước và dân tộc ra mà thử nghiệm mà về kinh tế chỉ có thể trông mong hòa trong khi về tất cả các mặt khác lại không hòa mà thua trắng, chỉ có đám “đỏ đen” chứ có ai trung thực và yêu nước mà lại chịu đựng nổi lối tư duy cờ bạc đó? Cái hậu họa dứt khoát sẽ đến ngay nhãn tiền. Vì nghĩ thế, tôi và một số anh em tâm huyết đã phản đối dự án này.
2. Mot so nguoi cho rang su hien dien cua TQ tai Tay Nguyen chinh la nguyen nhan de ho phan doi du an nay. Theo y kien ca nhan ong, tai sao ho lai coi do la mot su de doa?
Câu hỏi này không rõ. “Họ” mà quý báo nói đây là ai? Nếu là đại đa số nhân dân Việt Nam thì xin quý báo điều tra thêm trong thực tiễn. Còn nếu là những người trí thức và công dân ký tên trong “Kiến nghị” thì nội dung “Kiến nghị” đã nói cụ thể; chúng tôi lo ngại ở 4 điểm:
1. Việc lập dự án khai thác bauxite mới được công khai hóa từ cuối năm 2008 nhưng trên thực tế lại đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó mà chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Nghĩa là đối với chúng tôi, việc ký với ai cũng là quan trọng nhưng còn không kém quan trọng là nó có được tiến hành hợp pháp hay không. Tại sao lại có chuyện như vậy ở một đất nước từ lâu đã có Hiến pháp và gần đây còn ban hành hàng loạt bộ luật được Quốc hội thông qua? Đó là điều không thể lý giải. Một việc làm không hợp pháp được nhắm mắt làm ngơ thì bao nhiêu việc nữa sẽ khiến cho việc điều hành đất nước này trở nên lộn xộn, không minh bạch, xa lạ với quỹ đạo phát triển như mọi nước đã và đang đi[1] (Mới đây, ngày 4-5-2009, trả lời đông đảo cử tri Hà Nội yêu cầu đưa vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội phê chuẩn và giám sát “như ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có nói: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Ông còn nói thêm: “Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu” (xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/845582/). Trong khi đó thì mạng truyền thông Trung Quốc lại xác nhận các công ty của họ đã đổ vào Tây Nguyên những khoản tiền hết sức lớn, và họ đã bắt đầu thi công từng phần của dự án chứ không phải là “chưa ra đâu vào đâu” như ông Trọng nói (xem: http://www.youyiguan.com/bbs/viewthread.php?tid=20527). Mặt khác, tuy chia ra từng dự án thì quy mô ở Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ thật nhưng xét tổng thể cả quy hoạch bauxite Tây Nguyên hẳn phải nói là rất lớn! Báo “Du lịch” ngày 13-4-2009 đăng bài của một phóng viên lên điều tra tận nơi cho biết: “Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”. Cớ sao ta không trình Quốc hội trên Dự án tổng thể khai thác bauxite ở toàn vùng Tây Nguyên mà lại chia nhỏ ra từng dự án con để phán xét quy mô của mỗi cái là nhỏ? Hơn nữa, trong 5 tiêu chí của một dự án “cần phải đưa trình Quốc hội xét duyệt” theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29-6-2006 thì có tiêu chí thứ 4 ghi rõ “Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh”; Tây Nguyên ai cũng đều biết là “mái nhà Đông Dương” mà không đáng xếp vào tiêu chí thứ 4 sao? Hãy nghe Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: “Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (Cao nguyên) Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” (trích “Thư gửi BCT ĐCSVN và TT CPVN”). Cũng chính Kết luận số 245-TB/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN do Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang thông báo ngày 24-4-2009 có nói rõ: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Kết luận ấy chứng tỏ Bộ Chính trị biết vị thế Tây Nguyên trọng yếu như thế nào.
Tôi không phải là người có thói quen thích theo dõi nhân sự của một đảng cầm quyền, cũng không thích nghe lời bàn tán xầm xì của dư luận, chỉ biết làm chuyên môn và tôn trọng những ai là đại diện cho quyền lực của đất nước, nhưng trước việc này cũng không khỏi băn khoăn: hình như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chính là một Ủy viên trong Bộ Chính trị Đảng CS thì phải. Sao ông lại trả lời cử tri của mình lạ vậy? Người ta có cảm tưởng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đang… cãi lại Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, hay cũng có thể luận giải theo một hướng khác, rằng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng muốn “giải thích lại” thực chất ý nghĩ của Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng. Mong sao đó đều là những cảm giác nhầm lẫn (Được biết thêm chiều hôm qua, 14-4-2009, trong lời kết luận phiên họp của UBTVQH, ông Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu Quốc hội”. Có thế chứ. Xin ghi nhận chuyển biến đó và hãy cứ chờ đợi, lắng nghe ý kiến của các vị. Tuy nhiên, nếu Quốc hội chỉ nghe mà không thảo luận và biểu quyết thì thưa ông Trọng, đó chẳng phải là điều người dân mong đợi).
Còn ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì phải nói là càng lạ nữa. Trong buổi sáng 7-5-2009 đến thăm sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trước lời khuyên thẳng thắn của Đại tướng về việc nên dừng dự án bauxite, ông nói gọn ghẽ: “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”, các báo mừng rỡ loan tin, vậy mà cách một hôm sau, tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông lại đã dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn!? Ô hay, chỉ mới qua một ngày một đêm thôi, mà cả một Chính phủ chứ có phải cá nhân ông đâu, đã “tiếp thu và nghiên cứu” xong ý kiến của vị Đại tướng nhanh thế a? Thế thì con ông và cháu ông sẽ hiểu vấn đề đạo lý và lễ nghĩa trong xã hội Việt Nam là gì? Chuyện giáo dục bằng “gương người lớn” mà không quan trọng ư? Ông có nhớ câu chuyện cổ tích về một người bố cho ông nội ăn cơm trong gáo dừa thay bát cho khỏi vỡ, vì ông nội tay đã run, và đứa con nhìn thấy liền học theo, cũng chuẩn bị sẵn hai cái gáo dừa mẻ để dành về sau cho bố mẹ, hay không? Đó là chưa nói ông đang là “tấm gương” cho cả nước nhìn vào kia mà!
2. Ai cũng biết Trung Quốc rất cần nhôm để chạy đua trong ngành tên lửa và hàng không vũ trụ, để thực hiện những tham vọng không sao dò lường hết của họ. Từ lâu họ đã ký hợp đồng khai thác thứ quặng này ở nhiều nước và xúc tiến khai thác quy mô ngay cả trên đất nước họ. Khốn nỗi công nghệ của họ chưa đạt độ an toàn môi sinh cao, lại do những nhà thầu tư nhân thậm chí là những cai đầu dài vô học di cư bất hợp pháp chạy đua khai thác, đã gây ra những tai họa khủng khiếp ở lục địa Đen khiến cả thế giới đều lo lắng, và họ cũng đã phải đóng cửa rất nhiều mỏ quặng bauxite ở ngay trên đất nước họ[2 ] (Theo GS Nguyễn Ngọc Trân trong bài “Khai thác bauxite Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị” công bố ngày 8-4-2009 thì “Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn” (Xem: http://www.tuanvietnam.net/news/InTin.aspx?alias=thongtindachieu&msgid=6620). Cũng xin xem Dương Danh Dy: “Tìm hiểu tình trạng ô nhiễm môi trường klhi khai thác bauxit tại một vài nơi ở Trung quốc” (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/081128_timhieuonhiemotq.htm)). Thế thì làm sao mà tin họ được chứ! Thế mà lại ký hiệp ước mời họ đến khai thác bauxite trên đất nước mình, có phải là đã chuyển gánh nặng ô nhiễm tại đất nước Trung Hoa mênh mông sang mảnh đất Việt Nam bé nhỏ, để 84 triệu nhân dân Việt Nam gánh chịu thay cho 1 tỷ 3 dân của họ hay không? Sao lại có chuyện lạ đời đến thế? Ai, người Trung Hoa hay người Việt, đã tính chuyện lạ đời như thế?
3. Giới chuyên môn thừa biết đặc điểm quặng bauxite ở Việt Nam đòi hỏi một kỹ thuật khai thác khác với khai thác quặng bauxite ở Trung Quốc[3] (Xem thêm bài “Vấn đề công nghệ và môi trường trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên” của GS TS Nguyễn Thanh Sơn trên báo “Tia sáng” ngày 4-5-2009 (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2825&CategoryID=3). Thế mà ta lại du nhập công nghệ khai thác bauxite Trung Quốc vào Việt Nam kể cả du nhập nhà máy của họ. Lấy gì bảo đảm rằng những công nghệ khai thác ấy thích hợp với yêu cầu kỹ thuật khai thác bauxite của chúng ta, bớt tốn kém và đưa lại hiệu quả? Những gì người Trung Quốc đã làm ở châu Phi, nơi mà ngay cả ở nhiều mỏ đồng họ cũng phải cuốn xéo, chẳng là bài học đáng học hay sao? Tại sao cứ phải “cố đấm ăn xôi” (mà đã chắc đâu có xôi để ăn) như vậy?
4. Việc đưa công nhân Trung Quốc vào Tây Nguyên cũng là cả một vấn nạn khiến chúng tôi lo lắng. Tuy thông báo 245-TB/TW của BCT Đảng Cộng sản vừa rồi có nói “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”, và có chỉ thị về việc “sử dụng người lao động địa phương”, điều này có làm yên lòng chúng tôi ít nhiều, nhưng báo chí của Việt Nam trước đấy đều cho biết kể từ cuối năm 2008, các Công ty Trung Quốc đã đưa công nhân vào làm việc ở Tân Rai – và đưa vào nhiều rồi. Thế nghĩa là ông chủ có thể “chưa sẵn sàng dọn cỗ” nhưng đã có các loại “bất tốc chi khách” – khách không mời mà đến. Lạ lùng hơn nữa là những người ngoại quốc này còn làm việc một cách bất hợp pháp tại Việt Nam vì nhiều người trong số đó đến nước chúng tôi bằng visa du lịch chứ không phải visa làm việc – họ đâu được phép chuyển đổi từ “khách du lịch” sang “công nhân khai mỏ”?! Đối phó với các loại “khách” này sẽ ra sao, trong khi người Việt còn thất nghiệp và đi nhiều nước kiếm việc làm? Phải chăng là mình đã tự làm khó cho mình (nên nhớ xét về tỷ lệ, mật độ dân số ở Việt Nam hiện đã gấp đôi Trung Quốc)?
3. Xin duoc hoi ong voi nguoi Viet thi TQ co y nghia nhu the nao (ke thu cu, ke thu tiem an, doi thu hay nguoi anh lon)?
Chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc là bạn như mọi dân tộc khác ở gần cũng như ở xa Việt Nam. Chúng tôi nghĩ, nhân dân Việt Nam cần học hỏi mọi đức tính tốt đẹp của nhân dân Trung Quốc và củng cố mối quan hệ láng giềng giữa hai nước thật tốt. Đó là điều kiện để cả hai dân tộc cùng phát triển trong hòa bình, trong xu thế của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng giai cấp thống trị Trung Hoa đủ các mầu sắc từ sắc vàng các triều đại xưa đến sắc đỏ triều đại nay thì luôn luôn có dã tâm bành trướng, không phải chỉ bành trướng sang Việt Nam mà còn sang nhiều nước láng giềng, chuyện này lịch sử đã và vẫn đang còn ghi chép. Chỉ hai sự kiện này là đủ để hiểu “tim đen” của các “đồng chí Trung Quốc”: năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Hoàng Sa, chính quyền miền Nam Việt Nam chưa tiếp quản kịp, Trung Quốc liền tức tốc cho quân ra chiếm; năm 1974, biết tình thế nguy cấp của chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc cũng tức tốc thực hiện chiến thuật cũ, chiếm trọn cả quần đảo Hoàng Sa. Đó là thời của vũ lực. Nay đã sang thời kỳ mới, xâm lăng bằng kinh tế và văn hóa, tiêu diệt bà con láng giềng bằng gây ô nhiễm… Bởi thế, trong huyết quản con người Việt Nam vẫn sẵn có ý thức cảnh giác với mọi nguy cơ và phương thức xâm lược, và luôn luôn tự củng cố nội lực bằng tinh thần đoàn kết rộng rãi, điều ấy là dễ hiểu[4] (Mới đây thôi giới blogger Việt Nam mới phát hiện một vụ việc có thể nói là tày trời: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa để đưa tin về việc hợp tác kinh tế việt-Trung. Ngày khai trương có mặt cả 3 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai bên là đồng chí Hồ, đồng chí Nông và đồng chí Nguyễn, cùng kích hoạt cho trang mạng đi vào hoạt động. Nhưng hỡi ôi, chỉ sau ít lâu thì mới biết, nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam. Hỏi đến những người chủ trì trang mạng ở Bộ Công thương thì họ đành lắc đầu, không có cách gì để xóa, bởi một lẽ giản đơn là máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Trang mạng “Bauixite Việt Nam” đã loan báo kịp thời trong bài “Giao trứng cho ác”, có hình ảnh cả ba đồng chí lãnh đạo tươi cười đứng sát bên nhau trong ngày khởi động cái phương tiện truyền thông gây tai vạ chết người cho dân tộc chúng ta (xin xem: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2fjjj.onhkvgrivrganz.vasb/lxvra/090513_tvnbgehatpubnp.ugz); còn “Blog Lê Tuấn Huy” thì nêu vấn đề hình như đã chạm tới bản chất: “Đồng tiền và chủ quyền” (http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA–?cq=1&p=895); và “Blog Osin” gọi đó là “Giao trứng cho Trung Quốc” (http://www.blogosin.org/?p=898). Thử hỏi, với những chuyện chơi khăm kiểu đó, các “đồng chí Trung Quốc” thực hiên “16 chữ vàng” với Đảng Việt Nam có thật là “lòng vàng” hay không, hay là chỉ “lòng vàng” với Đảng mà “dạ tối thui” với đất nước và nhân dân này? Ngoài ra, dù gì đi nữa, dù vô tình hay cố ý, ngây thơ hay dại dột, thì vẫn cứ nhất thiết phải truy cứu: người nào ở cấp nào đã bị kẻ khác “làm xiếc” và người nào ở cấp nào là Lê Chiêu Thống trong trường hợp giao truyền thông cho Trung Quốc “nắm gáy” nói trên?).
4. Cac ong dang kien nghi gi tu phia chinh phu?
“Kiến nghị” đề ngày 12 tháng Tư năm 2009 của chúng tôi yêu cầu Chính phủ hãy dừng toàn bộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, có tổ chức giám sát chặt chẽ, và đưa dự án khai thác đó ra thông qua Quốc hội để Quốc hội xem xét thấu đáo tính chất tiền khả thi của nó, sau đó phê chuẩn hoặc bác bỏ là toàn quyền của Quốc hội. Nhưng cũng trong “Kiến nghị”, chúng tôi lại cũng khẩn thiết kêu gọi Quốc hội hãy “thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó” để Quốc hội có quyết định hợp lý hợp tình.
5. Cac ong keu goi moi nguoi tham gia hoat dong cua minh bang cach nao?
Thực ra chúng tôi không kêu gọi mọi người tham gia ký vào “Kiến nghị” mà lúc đầu chỉ gửi e-mail đến 15 người bạn nhờ góp ý tư vấn cho mình. Không ngờ đây vốn là một mối quan ngại đã nung nấu sẵn trong tâm can nhiều người chỉ chờ dịp là bùng phát, nên “Kiến nghị” được nhiệt liệt hưởng ứng, người này truyền cho người kia, rốt cuộc đến chiều ngày 16 (sau 4 ngày) thì đã có 133 người ghi tên vào danh sách, trong đó có rất nhiều nhà khoa học hàng đầu, văn nghệ sĩ tiêu biểu ở trong nước cũng như ngoài nước. Và cho đến nay con số đã trên 1.000 người. Tuy nhiên, quan điểm nhất quán trước sau của chúng tôi là muốn cho Nhà nước thấy sự thành tâm của mình, đây không phải là một việc gì khuất tất, nên những ai muốn ghi tên phải có đủ thông tin về nhân thân và về địa chỉ cư trú cụ thể. Vì thế, trong danh sách gửi lên cũng chỉ mới chọn lọc được 400 người và sắp tới sẽ có thêm 200 người nữa; những người còn lại phải bổ sung một số thông tin còn thiếu thì mới được gửi tiếp[5] (Hiện nay, Danh sách đợt 3 đến con số 600 đã công bố, chúng tôi sắp công bố Danh sách đợt 4 để gửi lên Nhà nước, đến hơn 1.000 người. Tiến độ có chậm trễ so với lượng người đăng ký (quá chậm trễ là khác) vì chúng tôi đều làm việc “tay trái”).
6. Theo du kien se co mot cuoc tu hop, trong hoa binh, vao ngay 23/4 de bay to su phan doi doi voi viec tien hanh du an. Xin duoc hoi ly do gi da khien cho cuoc tu hop ay khong dien ra?
Chúng tôi không biết đó là dự kiến của ai, riêng chúng tôi không hề đề xuất dự kiến này.
8. Xin cho biet ke hoach trong tuong lai cua cac ong la gi?
Việc lưu truyền bản “Kiến nghị” trên các trang mạng kể từ ngày 12-4-2009 làm cho ba người soạn thảo chúng tôi liên tiếp nhận được một số lượng e-mail hưởng ứng không sao trả lời xuể. Vì thế, đến ngày 22-4-2009 thì chúng tôi đành phải lập một Blog “Bauxite Việt Nam” (http://vn.myblog.yahoo.com/huechivn2009) để tiếp nhận thông tin từ khắp bốn phương. Nhưng rồi số lượng người truy cập cũng nhiều đến mức quá tải, đến ngày 28-4-2009 đã có hơn 41 vạn lượt người vào xem. Thế là đến ngày 27 tháng Tư năm 2009 chúng tôi lại phải chuyển đổi từ blog sang Website “Bauxite Việt Nam” (http://www.bauxitevietnam.info) do một số anh em tâm huyết đứng ra điều hành. Đến nay mới chỉ qua một ngày mà đã có hơn 36.000 lượt người truy cập[6] (Tính đến chiều 14-5-2009 đã có trên 40 vạn lượt người vào xem trang mạng của chúng tôi. Sở dĩ nói một cách phỏng đoán thế thôi vì tự nhiên trang mạng bauxitevietnam.info đang yên lành bỗng gặp “trục trặc”, vào mạng vẫn được, song upload thì không được nữa, và số lượng người truy cập hiển thị trên trang web cũng bị xóa. Ai mà lo ngại ảnh hưởng của trang mạng vốn tuân thủ nghiêm chỉnh phép nước của chúng tôi thế nhỉ? Chắc đây phải là “kẻ địch”, “mưu toan phá hoại đất nước”, nói như Thông cáo báo chí ngày 28-4-2009 của Bộ Công thương).
9. Cung co cac quoc gia khac nhu My dang can nhac khai thac khoang san tai VN. Cac ong co phan doi nguoi My toi VN ko? Neu khong, tai sao ong lai Kien nghi nhu vay?
Chúng tôi không hề phản đối người Mỹ tới Việt Nam đặt quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trái lại, việc củng cố mối quan hệ Việt-Mỹ giúp cho Việt Nam phát triển là một yêu cầu tối cần thiết. Nhưng nếu người Mỹ đến chỉ để khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì mọi vấn đề đang đặt ra về môi sinh, về văn hóa, về lợi nhuận… vẫn như thế, có khác gì đâu. Chúng tôi không kỳ thị các công ty Trung Quốc, mặc dù công nghệ Trung Quốc chắc chắn là kém xa Mỹ – và đã từng để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho đất nước chúng tôi như các nhà máy mía đường Trung Quốc mà Nhà nước chúng tôi từng nhập về cách đây hàng chục năm làm cho ngành mía đường Việt Nam thua lỗ chỏng gọng vì dây chuyền công nghệ cũ mèm. Người nhập kiếm được một món béo bở, tất nhiên, còn dân chúng phải è cổ ra gánh chịu mọi hậu quả, ai mà chả thấy[7] (Ngay chính một trang mạng của Trung Quốc 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 3984582, trong bài “Cuộc cạnh tranh bô-xít Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ” cũng thừa nhận chính sách đưa các dây chuyền công nghệ đã bỏ đi cũng như các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc vào đầu tư tại Nam Trung Bộ Việt Nam từ lâu đã gây ra ô nhiễm tệ hại và làm cho người Việt Nam thêm nghi ngại Trung Quốc, “Nếu không phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt… chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố”). Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là phải bảo vệ sự an bình của Tây Nguyên bằng mọi giá, hơn nữa cũng phải bớt dần đi cái lối làm kinh tế theo kiểu cứ moi khoáng sản lên để bán. Cái đó là một biện pháp “bóc ngắn cắn dài” chỉ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế các nước hiện đại.
10. Theo ong thi cac cty VN ky hdong voi cong ty cua TQ khi nao vay?
Việc này không có báo chí nào đưa, có lẽ cũng là điều cấm kỵ sao đó nên tôi không thể trả lời quý báo chính xác được. Trên ba số báo mạng Vietnamnet bằng tiếng Anh ra các ngày 23-09-2004, 14-10-2005 và 02-11-2005 có nhắc rằng dự án ký kết đã được duyệt, số tiền là bao nhiêu bao nhiêu, nhưng lại không hề ghi rõ ngày tháng hai bên đặt bút ký. Có lẽ “lề đường bên phải” phải dùng đến loại giày riêng, buộc báo chí phải “gọt” hết những con số thòi ra như vậy cho “vừa giày”. Chỉ biết đến nay, theo trang mạng BBC, Công ty Chinalco đã đưa người vào khai thác ở Tây Nguyên rồi[8] (Trong “Thư ngỏ” số 2 gửi lên các vị đứng đầu cơ quan quyền lực Nhà nước ngày 7-5-2009, chúng tôi đã tra tìm được các “bản ghi nhớ” ký với nhau giữa các công ty TQ và Việt Nam từ 2001 đến 2007; như vậy, câu trả lời này đã được bổ sung cụ thể và rõ ràng).
11. Cho toi thoi diem hien tai, theo ong duoc biet, da co bao nhieu cong nhan TQ dang lam viec o cong truong?
Đây cũng là một “bí mật nhà nước” mà báo chí không được phép để lộ. Trên Vietnamnet ngày 14-4-2009 có nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây, chứ không nói rõ số lượng bao nhiêu. Tất nhiên 20 dãy nhà kia chỉ là nhà cho công nhân làm việc cơ bắp chứ chuyên gia kỹ sư Trung Quốc thì đều ở các ngôi nhà ngoài thị trấn. Tuy vậy cũng trong bài báo ấy lại có để lộ rằng: theo lời một chủ quán ăn là Phượng thì số lượng công nhân Trung Quốc ở khu mỏ vào khoảng 800 người. Còn theo trang mạng “Sài Gòn tiếp thị” ngày 15-4-2009 thì những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đã đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cần chú ý thêm là cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít; quá ít người dân địa phương được nhận vào làm. Riêng ở Đắc Nông, tức ở khu mỏ bauxite Nhân Cơ, nơi hiện đang xúc tiến mạnh việc xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, thì theo báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây (trích lời ông Bùi Quang Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV), nhưng sau đó, ông Ngô Tố Ninh, lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV lại đã cải chính rằng con số nêu trên là chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (Vietnamnet ngày 26-4-2009). Chỉ chừng đó cũng đủ thấy một chuyện không có gì ghê gớm cả mà đối với thông tin truyền thông Việt Nam vẫn là cả một trò… “ú tim”. Trong khi ở Tân Rai người ta không nhận công nhân người Việt thì liệu 3.000 công nhân tại Nhà máy alumin Nhân cơ do Tập đoàn Chalco cai quản có được bao nhiêu người Việt? Muốn điều tra cho rõ điều này chắc phải có một đội ngũ các nhà xã hội học chịu khó xin phép đến Nhân Cơ hỏi chuyện từng người bằng tiếng Hoa, tiếng Việt, hoặc bằng tiếng của người dân tộc bản địa rồi cứ thế làm một phép cộng tỉ mỉ mới biết đích thực có bao nhiêu trong số 3.000 công nhân kia là người Việt Nam[9] (Không phải chỉ ở Tây Nguyên, rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, công nhân Trung Quốc đã sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, công trường đông đặc. Xin xem bài “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” của Cầm Văn Kình và Đăng Nam trên báo “Tuổi trẻ” ngày 16-4-2009 và trên trang mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=311388; và các bài: “Người Quảng Tây ở Quảng Nam” trên báo “Sài Gòn tiếp thị” 5-5-2009 (http://www.sgtt.com.vn/Detail29.aspx?ColumnId=29&newsid=50976&fld=HTMG/2009/0505/50976); “Thợ Việt - Trung đón tết trên công trường thủy điện” trên báo “Quảng Nam” ngày 19-1-2009 (http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=16125&Itemid=202)).
Nguồn: http://www.talawas.org/?p=4424
Lo ngại về hiệu quả tài chính của các dự án bauxite
Posted On Thursday, May 14, 2009 at at 7:40 PM by Bô-xít Tây Nguyên
| | ||||
| |
| |||
Hai thắc mắc về vụ bauxite Tây Nguyên
Posted On at at 7:12 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Dư luận về vụ này đang xôn xao thêm từng ngày, không chỉ các trang mạng trong nước mà cả báo chí quốc tế cũng đưa tin sát sao. Bộ Chính trị đã có kết luận, bây giờ mọi người còn hồi hộp theo dõi xem Quốc hội sẽ thảo luận vấn đề này như thế nào. Vị dân biểu Nguyễn Lân Dũng đã sớm cho biết ý kiến là ông đã "hoàn toàn thoả mãn" với các kết luận của BCT rồi, nhưng còn mấy trăm vị nữa, quốc dân cũng rất mong các vị tỏ rõ chính kiến.
Với tư cách là một công dân, tôi có một thắc mắc từ đầu mà đến nay tôi vẫn chưa biết rõ.
Đó là vấn đề: ý tưởng về dự án Bauxit khởi đầu do ai (phía VN hay phía TQ) nêu lên? Không nhắc lại việc VN đề xuất với khối Comecom hồi đầu thập kỷ 1980 đã được các chuyên gia Nga góp ý không nên thực hiện. Hồi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Phó thủ tướng trực tiếp thụ lý vấn đề này, đại tướng đã cho biết rất rõ trong bức thư, nay ai nấy đều được biết cả rồi. Điều tôi thắc mắc là trong và sau quá trình bình thường hóa quan hệ VN-TQ, bên nào là phía đầu tiên đề xuất vấn đề hợp tác khai thác Bauxit ở Tây Nguyên?
Việc đó:
a- Đơn thuần là một sáng kiến làm kinh tế có lợi cho cả đôi bên, được đề xuất riêng biệt, trong hoàn cảnh hợp tác bình thường như bao viêc kinh doanh buôn bán khác lâu nay ?
b-Hay là một đề tài được đề xuất cả gói (chung với các yêu cầu đề nghị khác) được đem ra đàm phán để tiến đến ký kết bình thường hóa quan hệ Việt - Trung?
Hai khởi đầu khác nhau dẫn đến các cách giải quyết vấn đề khó dễ khác nhau.
Nếu đơn thuần là hợp tác kinh tế thì tôi nghĩ Đảng cứ để cho bên chính quyền (Thủ tướng) làm, đồng thời cũng nên để cho dư luận xã hội tham gia đóng góp ý kiến, càng nhiều phản biện càng tốt. Chính các nhà lãnh đạo của Đảng mấy năm gần đây cũng rất nhiều lần kêu gọi như vậy. Thế nhưng đang khi nhiều nhà chuyên môn hiểu sâu về bauxit đang nghiêm túc tranh biện thì Thủ tướng lại nói đây là "chủ trương lớn của Đảng", rồi Bộ Chính trị lại ra bản kết luận, khiến cho dư luận nhân dân không khỏi cảm thấy đây không đơn thuần là vấn đề hợp tác kinh tế có lợi đôi bên, mà là một vấn đề chính trị ngoại giao hệ trọng liên quan đến quan hệ hai nước Việt-Trung.
Đành rằng việc quốc gia cũng có khi phải giữ bí mật (trong thời gian ngắn) để tiện làm việc, nhưng nay Trung Quốc tuyên bố rõ ràng rồi: quan hệ với Việt Nam là quan hệ láng giềng hữu nghị, minh bach công khai, theo thông lệ quốc tế chứ không theo cách nói tinh thần "đồng chí" CSCN như xưa nữa. Gần đây nhất sau khi VN nộp hồ sơ về thềm lục địa mở rộng thì TQ lập tức đã gửi công hàm phản đối, mà ta cũng đã gửi ngay công hàm phản đối hồ sơ của TQ, như thế là công khai minh bạch, không có gì khuất tất. Xa nữa thì như công hàm 1958 của Thủ tương Phạm Văn Đồng, trước họ cũng giữ kín không nói rõ, nhưng gần đây họ cũng đã họp báo phổ biến khắp thế giới rồi, có gì phải "bí mật" để giữ quan hệ đâu? Vậy thì vấn đề có tên dự án Bauxit Tây Nguyên trong các đề xuất cả gói khi đàm phán bình thường hóa quan hệ Viêt - Trung hay không Chính phủ cũng nên công khai thông báo cho cả nước được biết.
Cứ để tình trạng lờ mờ như hiện nay, dư luận có thể suy ra là có một sự gì đó rất khác thường, vì dự án Bauxit Đắc Nông được nêu lên trong thông cáo chung sau cuộc hội đàm của người đứng đầu hai ĐCS Trung Quốc-Việt Nam năm 2001, tức là một việc lớn chứ không phải việc lặt vặt chỉ ở mức 600 triệu USD chưa đủ quan trọng để thảo luận ở Quốc hội như ông Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng mới phát biểu gần đây. Lưu ý rằng nếu Chính phủ ta không chủ động nói rõ vấn đề này thì đến một lúc thích hợp nào đó chính ĐSQ Trung Quốc tại VN họ cũng sẽ nói ra. Mọi người hẳn còn nhớ vụ phá cây xanh xây khách sạn trong công viên Thống nhất, khi dư luận rộ lên, đại diện văn phòng UBND TP Hà Nội nói lờ mờ dự án ấy liên quan đến nhà đầu tư Thuỵ Điển là nước có công ủng hộ ta trong kháng chiến chống Mỹ, cách không mấy ngày ĐSQ Thuỵ Điển đã ra thông cáo cải chính ngay là họ không liên quan gì đến công trình khách sạn ấy nữa! Tôi hy vọng rằng dự án Bauxit Đắc Nông hay Tây Nguyên không nằm trong một hiệp nghị tổng thể nào quan trọng như tầm cỡ hiệp định khôi phuc quan hệ bình thường giữa hai nuớc.
Lại nữa, ngay cả khi nó đã được trói vào phần cứng đó, thì dư luận cũng cần được biết thêm "sáng kiến" bauxit ấy là do phía VN chủ động nêu lên cho “đủ sức nặng” để trao đổi với gói của Trung Quốc, hay ngược lại là do phía TQ nêu lên – nghĩa là TQ đòi bauxit như một điều kiện trong gói đàm phán?
Thật khó khăn, nếu như tên Bauxit Đắc Nông đã được ghi trong phần cứng của một hiệp định VN-TQ ở tầm cỡ quốc gia. Nếu có chuyện đó, các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước lại càng cần cho toàn dân biết rõ để đồng thuận tìm cách giải quyết, chứ không nên giữ im coi là "chuyện đã rồi" như ông dân biểu Dương Trung Quốc có nói đến. Ký kết rồi mà không thực hiện thì TQ họ sẽ nói VN mình "lật lọng" (tôi xem internet TQ thấy rất nhiều các bài vở thiếu hữu nghị với VN như vậy). Nhưng tôi nghĩ rằng, hãy tổ chức các hội thảo khoa học một cách khách quan (chứ không phải hội thảo đạo diễn như cuộc vừa qua) để xác định lợi ích được - mất của dự án, thậm chí cần phải mời cả các tổ chức quốc tế có uy tín làm tư vấn thẩm định v.v. Rồi Quốc hội thảo luận một cách rất thẳng thắn dân chủ công khai, nếu cần dừng hay điều chỉnh thế nào thì sẽ thương thảo lại với phía TQ, họ chịu hay không là một chuyện, chứ có gì mà cứ phải giữ kín lờ mờ ? Đó là một tình thế có thể nói là khá kẹt, nhưng nếu cần vẫn phải làm. Thế giới ngày nay có những cuộc khủng hoảng tưởng xẩy ra chiến tranh tới nơi mà người ta vẫn giải quyết được, vụ bauxit làm gì đã đến mức như vậy mà e dè không muốn nói thật ra?
Cuối cùng, nếu quả thật dự án Bauxit Đắc Nông (hay Tây Nguyên nói chung) không bị gắn vào một cam kết cứng nào đó phải thực hiện, các khả năng còn lại đôi bên chỉ coi như một dự án hợp tác giữa các tập đoàn kinh tế với nhau thì lại càng có thể tìm ra lối thoát. Giả dụ cứ "cố đấm" làm cho được cái dự án ấy, thì về môi trường, Tây Nguyên bị tàn hại như thế, mà về lợi ích kinh tế, ông Kiển đã có câu nói rất nổi tiếng 50:50, nghĩa là rất có thể bị lỗ hoặc có lời thì mức độ cũng khá thấp! Làm gì cũng vì lợi ích quốc gia (chứ có phải việc riêng quyền lợi riêng của các vị đâu), thế thì hay gì cái chuyện cứ làm thục mạng mà dư luận hiện nay đã khá đông người không đồng tình. Dăm ba năm năm nữa lên Tây Nguyên thấy xơ xác một màu đỏ ối mà đời sống người dân Tây Nguyên chẳng khá lên được tí nào, thì thử hỏi các vị có yên tâm với công sức của bao người đã bỏ ra hay không ? (Lời lãi như ông Kiển nói đó thì lấy gì mà cải thiện đời sống cho đồng bào Tây Nguyên?).
Tôi thích xem đá bóng, thường vẫn gọi đội U22, U23, v.v. Nay tôi đã là cầu thủ đội ngoài 70 rồi, tuy theo dõi vẫn thường xuyên nhưng mấy chục năm trường trôi qua, tôi tuyệt nhiên chưa viết một bài nào về chuyện quốc gia đại sự cả. Nhưng nay những người cùng trang lứa như GS Nguyễn Huệ Chi vốn là bạn học của tôi hồi thiếu niên, sau lại cùng làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu giới thiệu di sản Hán Nôm, nay đứng chính thảo hai bức thư nêu những kiến nghị rất xác đáng với một tinh thần rất thẳng thắn, trong sáng không chút vụ lợi. Vậy thì tôi cũng phải mạnh dạn ghi lại mấy thắc mắc về sự khởi đầu của dự án Bauxít Tây Nguyên. Tôi đã mất nhiều thì giờ tra tìm, không thấy đâu nói đến. Đó là thắc mắc thật của tôi chứ không phải cách đặt ra câu hỏi để tự trả lời như thường thấy.
Nếu may mắn có vị lãnh đạo có trách nhiệm bằng cách nào đó giải đáp cho thì rất tốt (lưu ý trách nhiệm giải đáp, tránh tình trạng như chuyện ĐSQ Thuỵ Điển cải chính đã nói ở trên). Nếu không được như thế thì bàì nêu thắc mắc này kể như cũng rơi vào "sự im lặng đáng sợ". Biết làm sao nữa?
Ngô Đức Thọ
50, ngõ 210/41/11 Đội Cấn,Hà Nội
ngoductho@hn.vnn.vn
HD Mạng Bauxite Việt Nam hiệu đínhSốc với mấy ông thần TKV
Posted On at at 1:15 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Thời gian gần đây, báo chí đua nhau giật tít “sốc với abc” – với abc thường là ảnh khỏa thân của ngôi sao nào đó. Ừ thì cũng ghê thật đấy, nhưng làm gì đến nỗi “sốc”. Mấy cô gái trẻ thừa tiền thiếu chữ hám danh lợi thì thiếu gì trò tiêu khiển sa đọa. Dăm bữa nửa tháng các cô ấy lại để lọt ra một vài tấm ảnh thì việc gì phải bù lu bù loa lên.
Trong khi đó, chuyện tày trời ở sát nách mình thì chẳng thấy báo nào chịu “sốc” – quan chức tập đàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới tuyên bố: “Làm bô-xít hiệu quả hay không, chờ thực tế mới biết”! Ố là la!
Lời tuyên bố này được tờ Tuần Việt Nam – một tờ báo thuộc hàng “cứng đầu cứng cổ”, thích “đi trên lề trái” đây – đăng tải hôm qua, 13 tháng Tư năm 2009.
Cụ thể, ông chủ tịch TKV nói:
Lỗ hay lãi bây giờ chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.
Đúng là chỉ có ở Việt Nam. Một loạt các nhà khoa học lên tiếng nhưng chỉnh phủ vẫn bỏ ngoài tai và để cho ông thần này tuyên bố khoa học và thực tế “là 50:50″ – tôi chịu không hiểu nổi cái 50:50 của ông là ý nói gì. Cơ sở hóa học, kinh tế học, xã hội học, địa-chính trị học lù lù ra đấy rồi mà ông bảo ngang bằng với đống hồ sơ mờ mờ ảo ảo của TKV ư?
Trước khi đi đến kết luận đó, ông TKV này còn nói:
Lịch sử phát triển công nghiệp của Việt Nam cho thấy, nhiều dự án được cho là không hiệu quả, các nhà đầu tư tính toán vẫn thấy lãi, Chính phủ đồng ý làm và đến nay nó đã chứng minh hiệu quả.
Nhưng ông không chỉ ra được ví dụ cụ thể. Và ông cũng không dám đảm bảo đã tính chi phí hoàn nguyên môi trường, đền bù thiệt hại vào cái gọi là lợi nhuận đó hay chưa.
Hơn nữa, lịch sử chứng minh rằng chúng ta – sau hai chục năm đổi mới – vẫn chỉ có công nghiệp giản đơn, toàn là gia công, lắp ráp chứ có chế được món gì ra hồn đâu!
Xin chú thích thêm rằng những dự án bê bối như tân trang tàu cũ của Vinashin hay chế biến bột ngọt của Vedan cho đến nay chưa hề đền bù cho người dân địa phương, chưa bắt đầu cải tạo – làm sạch môi trường nhưng đã bắt đầu di dời dân địa phương đi nơi khác BẰNG KINH PHÍ NHÀ NƯỚC (!?).
Khi nói về chi phí môi trường, quan TKV tuyên bố:
Không thể chỉ căn cứ vào vài tiểu tiết để đưa kết luận. Quan điểm của TKV là phải nhìn vào cả đời dự án, nhìn tương lai để tính toán các kịch bản khác nhau. Chúng tôi đều phải tính toán, khảo sát các phương án để đi đến kết luận.
Hóa ra phí làm sạch môi trường là “tiểu tiết” cơ đấy. Thế có ghê không!
Bên cạnh đó, ông Hoàng Trung Hải – phó thủ tướng – nói:
TKV tính, nếu người nước ngoài không cùng làm đường sắt thì mình vẫn phải làm. Chính phủ sẽ có chính sách nào đó để làm.
Không thấy ông cho biết cái tuyến đường sắt đó sẽ dùng vào việc gì, sẽ có hàng hóa gì được vận chuyển qua đó. Chúng ta đã có những tuyến đường bộ thuận lợi hơn đi sang Lào, Campuchia và Thái Lan rồi, xây đường sắt ở nơi hiểm trở để làm gì? Và tất nhiên, các nhà khoa học chưa kịp phát biểu gì về tuyến đường từ trên trời rơi xuống này.
Ở cuối bài, các quan thừa nhận là người Trung Quốc đã vào Việt Nam. Ít ra ở Tân Rai hiện có 300 công nhân Trung Quốc. Mà 300 người thì rõ là bằng nguyên một làng ở Tây Nguyên, thế mà trong cuộc họp thường kỳ của chính phủ hồi cuối tháng Ba, có vị dám thề thốt rằng không có làng người hoa nào ở cao nguyên trung phần.
Và để kết thúc, tôi xin dẫn lại lời ông chủ tịch TKV khi được hỏi lý do dự án bô-xít được lên kế hoạch từ một thập kỷ nay mà không công bố cho dân biết:
Đó không phải là việc của tôi. Trước đó, tôi có liên quan đâu, làm sao tôi trả lời(?!).
Quá hay! Vậy ra khi tiếp nhận công ty, dự án thì ông chẳng cần quan tâm xem trước đó nó ra sao phải không? Rồi vài năm nữa ông về hưu thì dù bùn đỏ có nhấn chìm luôn Việt Nam ông cũng vô can.
Chính quyền sẽ lấy tiền thuế của dân để di dời dân đi nơi khác chứ các ông có mất xu teng nào đền bù thiệt hại đâu, đúng không?
Nếu đưa ra quốc hội thảo luận, tôi tin rằng dự án bô-xít ở cao nguyên trung phần sẽ bị bác bỏ ngay. Nhưng đến giờ vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì cho thấy vấn đề có thể sẽ được đưa ra bàn thảo công khai.
Mang tiếng nô bộc của dân mà làm gì cũng thấy giấu nhẹm không cho chủ biết, thật là hợp hiến(*) ghê gớm!
Tôi nghe đồn mấy ông quan hiện nay chăm đi chùa lắm, cầu Trời khấn Phật, lạy lục sì sụp suốt. Nhưng nghe qua tuyên bố của các ông thì hẳn là Trời, Phật phải lạy các ông thôi!
(* Tham khảo thêm hiến pháp Việt Nam)
Bauxite và tinh luyện Nhôm: Vài điều thường thức và cảm nghĩ
Posted On Wednesday, May 13, 2009 at at 9:35 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Oxit nhôm lưỡng tính, tan được trong cả axit lẫn bazơ.
Oxit sắt mang tính bazơ, chỉ tan trong axit.
Vì vậy, để tách oxit nhôm, người ta nghiền mịn quặng, rồi ngâm trong dung dịch xút đặc nóng. Oxit nhôm sẽ tan, oxit sắt còn lại ở dạng bùn đỏ, màu đỏ là màu của oxit sắt.
Thu lấy DUNG DỊCH CHỨA NHÔM, còn bùn đỏ thải ra môi trường, bùn này chứa cả xút dư, kiềm tính rất cao, không có sinh vật nào sống được, và tất nhiên là làm ô nhiễm nguồn nước.
Thông thường để tách được 1 tấn oxit nhôm, lượng bùn đỏ thải ra môi trường tối thiểu là 3 tấn.
Trung hòa DUNG DỊCH CHỨA NHÔM bằng axit, sẽ thu được kết tủa hydroxit nhôm.
Từ hydroxit nhôm, phải nung ở nhiệt độ khoảng 800 - 900 độ C, mới thu lại được oxit nhôm tinh khiết.
Giá thành oxit nhôm tinh khiết tương đối rẻ, khoảng 250-300 USD/tấn.
Hiện nay, VN khai thác chỉ dừng ở giai đoạn này.. Vì sao?
Từ oxit nhôm, muốn thu được nhôm kim loại, phải có nguồn điện năng dồi dào để thực hiện hai công đoạn: một là nấu nóng chảy oxit nhôm, hai là điện phân oxit nhôm nóng chảy, mới thu được nhôm. Oxit nhôm nóng chảy ở nhiệt độ 2.000 độ C, rất cao, không lò nào chịu được.
Vì vậy, người ta trộn oxit nhôm với một hợp chất hóa học, có tên là cryolit, tỷ lệ về khối lượng rất chênh lệch: một phần oxit nhôm, mười phần cryolit, mới thu được hỗn hợp chịu nóng chảy ở 900 độ C. Sau đó điện phân hỗn hợp này để được nhôm kim loại.
Giá thành nhôm kim loại cao chính là do giai đoạn làm nóng chảy và điện phân nóng chảy này.
Hiện khoa học đang có xu hướng tìm cách để làm nóng chảy oxit nhôm bằng nhiệt tỏa ra từ một phản ứng hóa học, hay khử bằng một phản ứng hóa học để thu trực tiếp nhôm, với giá rẻ hơn giá dùng điện, nhưng chưa thành công.
Năng lượng điện của VN cung cấp cho dân sinh còn chưa đủ, nên khó lấy đâu ra để điện phân nhôm.
Thiết nghĩ, việc khai thác quặng bauxite lúc này dù có qua chế biến thì cũng chỉ là bán tài nguyên thô với giá rẻ, nhưng hậu quả lớn là để lại thảm họa môi trường nhìn thấy rõ.
Có đáng như vậy không?
Nguyên Đắc Diên
Tp.Hồ Chí Minh, Email: dien2424@
THƯ NGỎ (SỐ 2) GỬI QUÝ VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Posted On Monday, May 11, 2009 at at 10:07 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Việt Nam ngày 7 tháng 5 năm 2009
Kính gửi:
– Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và toàn thể thành viên Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và toàn thể thành viên Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Kính thưa quý vị Lãnh đạo,
Tiếp theo Thư ngỏ (số 1) gửi các đại biểu Quốc hội khóa 12, nay chúng tôi gửi Thư ngỏ này (đánh số 2 để tiện theo dõi) nhằm mục đích phân tích những sai trái trong Thông cáo của Bộ Công thương đề ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong đó đã sai về nội dung khi phản bác lại các luận điểm của bản Kiến Nghị đối với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, lại còn sai cả về thái độ khi quy chụp những trí thức đã ký tên vào kiến nghị là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.
Sở dĩ chúng tôi phải dùng hình thức thư ngỏ, vì kinh nghiệm cho thấy quý vị rất hiếm khi – thậm chí không bao giờ – đối thoại với những người gửi thư tới quý vị, ngay cả những công dân có công lớn với đất nước như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh, … thì thư gửi tới quý vị đều không được phản hồi, vậy nên, việc viết thư ngỏ là biện pháp bất đắc dĩ mà chúng tôi phải lựa chọn để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai.
Sở dĩ bài Thông cáo báo chí của Bộ Công thương được tung ra từ ngày 28 tháng 4 năm 2009, nhưng mãi đến hôm nay chúng tôi mới có thư ngỏ này, đó là vì Ban Khởi thảo Kiến nghị không muốn tự tiện, còn phải chờ ý kiến số đông, đặc biệt ý kiến từ các chữ ký tiêu biểu chủ chốt, xem có cần phải trả lời hay không, và nếu có thì nên trả lời thế nào. Vì chúng tôi biết rằng, sai lầm từ một người như ông Thứ trưởng Bộ Công thương thì có thể được làm ngơ, ngược lại những phản hồi này chỉ sai sót chút ít là đủ để nhận những đáp trả không xứng đáng với tư cách chúng tôi.
Kính thưa quý vị,
Ngày 28 tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Công thương phân phát một Thông cáo báo chí trong buổi họp giao ban tại Hà Nội, được cho là đến tay 300 nhà báo, nhưng không có công khai công bố trên bất cứ một tờ báo nào trong nước. Chúng tôi đã may mắn được đọc, và nhận thấy, nội dung của Thông cáo đó có nhiều điều sai, chúng tôi sẽ trình bày qua thư ngỏ này.
Trước hết, đề cập chung đến bản Kiến nghị ngày 12 tháng 4 năm 2009 về chủ trương khai thác Bauxite Tây Nguyên, một văn bản đầu tiên gồm 135 chữ ký tự nguyện của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tập hợp đủ các ngành nghề, kể cả những người có chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, kỹ thuật khai thác, v.v. và hiện đang được sự ủng hộ ngày càng tích cực của mọi người, chí ít là chưa thấy một lời lẽ phê phán nào, càng không thấy có ai chống lại. Chưa bao giờ thấy hiện tượng cả ngàn người nhất trí ký tên vào bản Kiến nghị trong đó rất nhiều người không quen biết nhau mà mới chỉ “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, thế mà bản Thông cáo báo chí của Bộ Công thương lại nói về những chữ ký đó một cách hàm hồ và chụp mũ trắng trợn như sau:
“[…] bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với nhiều thông tin không chính xác”.
Chúng tôi tạm bỏ qua chưa phân tích “kết luận” trên của Bộ Công thương, bỏ qua cả những kiểu cách quy chụp rất trịch thượng trong ngôn từ mà Bộ Công thương sử dụng, chỉ xin đi vào những lý lẽ cụ thể đã được Bộ Công thương phản bác.
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ nhất của chúng tôi được Bộ Công thương trích dẫn như sau:
“Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được “ký tắt” với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc hội”.
Giải trình của Bộ Công thương:
“Đây là nội dung hoàn toàn sai trái: Các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong giai đoạn hợp tác với các nước khối SEV. Chủ trương phát triển ngành công nghiệp này đã được nêu trong văn kiện của hai Đại hội Đảng IX, và X. Bộ Chính trị đã xem xét và có nhiều chỉ đạo về vấn đề này, giao cho Chính phủ lập quy hoạch. Dự án Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 được xây dựng từ những năm 2005, trong quá trình xây dựng có nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước v.v. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Đầu thập niên 1980, Việt Nam yêu cầu khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế hay COMECON) nghiên cứu dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin của Việt Nam. Mặc dù Liên Xô đang phải nhập khẩu 50% bauxite, chuyên gia Liên Xô, thông qua khối SEV, vẫn khuyến cáo Việt Nam “không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên”(1). Lúc ấy Tổng Bí thư là Lê Duẩn và Thủ tướng là Phạm Văn Đồng.
– Tháng 12 năm 2001, sau Đại hội Đảng IX, tân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bauxite nhôm Đắc Nông”(2).
– Tháng 5 năm 2002, báo chí Trung Quốc đưa tin: Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 800 triệu đô la Mỹ ở Tây Nguyên; Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo tiền khả thi sơ khởi về khả năng sản xuất hàng năm 1 triệu tấn alumin ở Đắc Nông(3).
– Tháng 12 năm 2003, báo chí Trung Quốc đưa tin: Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) tham gia dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên; Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án trị giá 1.35 tỷ đô la Mỹ và hai bên sẽ hoàn chỉnh báo cáo tiền khả thi cho dự án(4).
– Tháng 12 năm 2005, báo chí Trung Quốc đưa tin: Chalco đã ký một thỏa thuận ban đầu với Tập đoàn nhà nước Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) để cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên(5).
Tất cả những dữ kiện nêu trên đều xảy ra trước Đại hội Đảng X tổ chức vào tháng 4 năm 2006 khi vấn đề khai thác bauxite, sản xuất alumin mới lại được đề cập đến. Tuy nhiên, ngay cả khi “có chủ trương” rồi, thì tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam vẫn không được thông báo về chủ trương và dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin cho đến khi tin tức về dự án và phản biện được công khai hóa trên phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuối năm 2008.
Như vậy, giải trình của Bộ Công Thương là hoàn toàn không trung thực chứ không phải nội dung bản Kiến nghị của chúng tôi là sai trái, theo Thông cáo báo chí của họ.
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ hai được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):
“Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích”.
Ý kiến thứ ba được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):
“Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự “nổi tiếng” của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng)”.
Giải trình của Bộ Công Thương:
“Như trên đã nêu, hiện nay ở Tây Nguyên chỉ có 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ là do ta tự đầu tư (chủ đầu tư là Tập đoàn nhà nước TKV) mà không phải là dự án liên doanh với nước ngoài. Nội dung bản kiến nghị cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước.
…
"Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumin tại Việt Nam được thỏa thuận. Việc dự kiến hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài như Alcoa (Mỹ), Chalco (Trung Quốc), Uc-Russal (Nga) vẫn đang được các doanh nghiệp Việt Nam đàm phán và chưa có kết quả. Như vậy thông tin về việc Trung Quốc đóng của các mỏ bauxite và chuyển sang khai thác bauxite ở Việt Nam là không có tính hiện thực và không đúng với tình hình thực tế.
“Về vấn đề “Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc…”:
"Đối với dự án nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ, Tổng thầu gói thầu EPC là Công ty Chalieco, Trung Quốc (Công ty con của Chalco). Trong quá trình xét thầu, hồ sơ dự thầu của Công ty này đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu; Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumin tiên tiến. Thực tế sản phảm alumin của Chalco đạt tiêu chuẩn để sản xuất nhôm và có tính cạnh tranh trên thế giới. Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 9 tháng 4 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc chuyển giao công nghệ sản xuất alumin, đảm bảo công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Theo các báo quốc tế cũng như theo báo chí Trung Quốc, trong vòng hơn 5 năm nay, hàng ngàn doanh nghiệp khai thác quặng mỏ (bauxite, than, v.v.) của Trung Quốc phải đóng cửa do những quy định mới về bảo vệ môi trường hay đòi hỏi canh tân kỹ thuật. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp lớn như Chinalco không ngừng mở rộng thị trường khai thác bauxite, sản xuất alumin ra nước ngoài như Brazil, Australia, Guinea hay Việt Nam(6).
– Tháng 11 năm 2006, hãng thông tấn Reuters đưa tin trong thời gian Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC ở Hà Nội, Chalco và TKV đã ký hiệp nghị khung cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 1.6 tỷ đô la Mỹ(7).
– Tháng 5 năm 2007, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalco và TKV đã thỏa thuận cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin. TKV và Chalco sẽ thành lập liên doanh bauxite trong đó TKV nắm 51% vốn và thành lập liên doanh alumin trong đó Chalco nắm 60% cổ phần(8).
– Tháng 5 năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác”.
– Tháng 7 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalieco và TKV đã ký thỏa thuận tổng thầu gói thầu EPC xây dựng nhà máy sản xuất hàng năm 0.6 triệu tấn alumin tại Bảo Lâm, Lâm Đồng(9).
– Tháng 9 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin dự án khai thác bauxite giữa Chalco và TKV ngưng trệ do bất đồng trong vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở(10).
Tất cả những dữ kiện nêu trên nhấn mạnh hai điểm chính:
– Việc các doanh nghiệp Trung Quốc khai thác quặng mỏ ảnh hưởng nguy hại đến môi trường và việc họ mở rộng lãnh vực khai thác quặng mỏ ngoài Trung Quốc là một thực tế không thể chối cãi.
– Các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên và đang ráo riết thúc đẩy Việt Nam trong quá trình thi công. Mọi chậm trễ, nếu có, chỉ là yếu tố nhất thời.
Kính thưa quý vị,
Trong phần kết lá thư gửi Hội thảo về bauxite ngày 09/4/2009 tại Khách sạn Melia, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời khuyên hết sức thẳng thắn là:
“[…] không nên khai thác.
Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.”
Những điều được viết trong bản Kiến nghị của cả ngàn chữ ký chúng tôi chỉ là biểu hiện lý trí và tình cảm đã được Đại tướng bộc bạch. Qua văn bản kết luận gần đây của Đảng và Thủ tướng Chính phủ, nhân dân Việt Nam nhận thấy có nét tư duy tích cực, đã đặt ra yêu cầu thận trọng khi xử lý vấn đề bauxite Tây Nguyên(11). Song, chúng tôi vẫn thấy cần vạch ra mấy xu thế sau đây:
Có ý kiến cho rằng, do cam kết quốc tế, Việt Nam không thể ngưng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumina
Tình hình cụ thể cho thấy: nhân dân Việt Nam thông qua Quốc Hội, cơ quan quyền lực tối cao của mình, chưa hề có dịp biểu quyết về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bên “cam kết quốc tế” thực sự tôn trọng quyết định của cả dân tộc Việt Nam, thì đó là điều tốt cho họ. Còn không, nhân dân Việt Nam đã biết dựng nước thì cũng biết giữ nước. Nhân dân Việt Nam từng trải nhiều ách nô lệ, chắc chắn không một ai vì quyền lợi riêng mà bênh “bên đối tác” và phản bội lại dân tộc mình.
Có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế khu vực cho Tây Nguyên là một nhu cầu cấp bách, trong đó trữ lượng bauxite của Việt Nam lớn hàng thứ ba trên thế giới, nên càng cần tận dụng nguồn tài nguyên này vào phát triển kinh tế!
Tình hình cụ thể cho thấy: Dân tộc ta vừa ra khỏi chiến tranh, kinh nghiệm xây dựng đất nước vẫn còn non nớt. Tình trạng đó thể hiện ở năng lực yếu khi quản lý những hạng mục lớn mà thực tế làm ăn thất bát trong việc nhập hàng loạt các nhà máy mía đường, vụ ô nhiễm kéo dài cả chục năm do nhà máy bột ngọt Vedan gây ra, vụ “quy họach” ồ ạt các sân golf … chỉ là mấy thí dụ quá nhỏ. Việc học tập xây dựng một đất nước PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG không dễ dàng gì khi còn có đầu óc quản lý lối tiểu nông, khi còn có tệ nạn tham nhũng, và khi bắt đầu hình thành những tập đoàn lợi ích rất khó kiểm soát.
Nếu có ai đó đã nói “không khai thác bauxite bằng mọi giá”, thì mong rằng đó là lời nói chân thành. Người biết nghĩ như thế hãy đấu tranh chống lại lối suy nghĩ kiểu cờ bạc, đem dân tộc ra đặt 50/50 vào một canh bạc chắc gì đã năm ăn năm thua?
Cũng đấu tranh cả với thói vô trách nhiệm, thể hiện trong những cách phát ngôn thiếu suy nghĩ, thiếu tầm vóc của người có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Pháp quyền.
Kính thưa quý vị,
Vì hoàn toàn tin cậy vào quý vị, lại hy vọng rằng quý vị cũng cùng tâm tư với chúng tôi, nghĩa là cùng đặt quyền lợi Tổ quốc trên hết, chúng tôi trông đợi những quyết định đầy bản lĩnh và đầy trách nhiệm của quý vị. Khó khăn nào hơn khi Đại tướng thân yêu của chúng ta quyết định kéo pháo ra, chậm cuộc tổng tiến công lại, song Ngài đã làm được điều đó, và tên tuổi Ngài sẽ sống mãi cùng non sông đất nước!
Xin cám ơn quý vị Lãnh đạo đã lắng nghe lá Thư ngỏ số 2 này, trong đó chứa đựng những lời tâm huyết của những con người chỉ muốn rảnh rang làm công việc sáng tạo âm thầm của mình, không một mảy may thu vén cho riêng mình trong vụ việc liên quan đến dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin.
Xin chân thành cảm ơn quý vị,
Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên
GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng
Phụ chú:
(1). Thư Đại tuớng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 14/01/2009
(2). http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335
(3). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2002-05/09/content_118721.htm
(4). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2003-12/05/content_287458.htm
(5). http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/20/content_504770.htm
(6). “Refined Brown Aluminum Oxide from China”, U.S. International Trade Commission, March 2009; “Bauxitee and Alumina [Advanced Release]”, U.S. Department of Interior, U.S. Geological Survey, November 2008; Thailand Office of Industrial Economics Report, April 2005
(7). http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSHAN21294820061117
(8). http://english.vietnamnet.vn/biz/2007/05/698557/
(9). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=40298
(10). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=41689
(11). http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846241/
http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/10/810281/Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/thongbao/090507_thuguiquochoi2.htm