Bô xít Đắc Nông: Còn quá nhiều câu hỏi?
Posted On Tuesday, May 12, 2009 at at 10:40 AM by Bô-xít Tây Nguyên
BXTN:- Hội thảo "tìm kiếm giải pháp" do Tỉnh Đắc-Nông & TKV đồng tổ chức đã nhận được rất nhiều câu hỏi và cảnh báo. Cùng đọc lại những câu hỏi đó để nhìn nhận xem TKV đã làm được những gì để khắc phục cho đến nay.
27-10-2008
|
ThienNhien.Net - Hội thảo khoa học “Tìm kiếm giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác và chế biến quặng bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở Tây Nguyên và Nam Trung bộ” do UBND tỉnh Đăk Nông phối hợp với Viện Tư vấn Phát triển (CODE) và Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) tổ chức trong hai ngày 22 và 23/10 đã đặt ra nhiều câu hỏi cho siêu dự án này. Dư luận lại một lần nữa được nghe những cảnh báo những hậu quả tiềm tàng về xã hội và môi trường. Liệu những tiếng nói trách nhiệm này sẽ được cân nhắc như thế nào trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án?
Hơn 160 đại biểu đã tham dự hội thảo, bao gồm nhà khoa học thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ khai khoáng thuộc các trường Đại học, Viện nghiên cứu; Đại diện của các cơ quan quản lý Trung ương từ Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương; lãnh đạo các cơ quan Đảng, Chính quyền và các sở ban ngành tại của các tỉnh Tây Nguyên. Bên cạnh đó, hội thảo cũng đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của hơn 20 nhà báo đến từ các cơ quan báo chí, truyền hình Trung ương và Địa phương.
Nhìn chung, các đại biểu đồng ý rằng bô-xít là tài nguyên khoáng sản chỉ có thể tái tạo sau hàng triệu năm. Việc khai thác quặng là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và của tỉnh Đăk Nông nói riêng. Tuy nhiên, khai thác bô-xít sẽ có ảnh hưởng lớn đến sinh kế, cảnh quan môi trường, có thể tạo ra nhiều thay đổi nhanh đối với văn hóa và các giá trị cộng đồng truyền thống độc đáo của đồng bào Tây Nguyên. Với việc “bóc” đi lớp thảm thực vật và đảo lộn hệ thống cảnh quan để khai khoáng, những giá trị phi vật thể của không gian văn hóa Tây Nguyên liệu có còn được nguyên vẹn? Những giá trị này đã được hình thành trải qua rất nhiều thế hệ và gắn chặt với thiên nhiên, núi rừng hoang sơ, không dễ gì phục hồi lại được một khi đã mất đi.
Cái gánh “quá nặng” cho TKV!
Thực tế, bô-xít là ngành công nghiệp mới đối với Việt Nam. Bản thân TKV chưa có nhiều kinh nghiệm, cả lý thuyết lẫn thực hành, đặc biệt là qui trình công nghệ chuyên nghiệp xuyên suốt từ thăm dò, khai thác đến chế biến và điện phân nguyên liệu quặng đến nhôm thành phẩm. Việc Thủ tướng thông qua Quyết định 167/2007/QĐ-TTg đặt lên vai TKV một trọng trách dường như vượt ngoài khả năng và thực lực của Tập đoàn. Nhiều nhà khoa học, lãnh đạo địa phương và thậm chí cả TKV cũng tỏ ra băn khoăn, trăn trở và lo lắng trước vấn đề này. Theo ông Trần Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông: “Nếu công nghệ bô-xít phát triển mà không song hành với lợi ích của đồng bào, đến một lúc nào đó, đồng bào bị gạt ra khỏi lề của công nghiệp bô-xít thì quả là đáng phải suy nghĩ. Nên bắt đầu bằng đánh giá môi trường tổng hợp trước khi tiến hành công nghiệp bô-xít tại tỉnh Đăk Nông, thử nghiệm thí điểm một công trình Nhân Cơ để có bài học và đúc rút cho tổng thể dự án. Bên cạnh đó, tỉnh cần kêu gọi sự tham gia khách quan của các chuyên gia khoa học đa ngành vào trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án”.
| Xử lý chất thải bùn đỏ từ quá trình tuyển quặng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Theo tính toán, để khai thác được 600.000 tấn/năm phải thải ra 1.800.000 tấn bùn đỏ và sẽ gây nên tình trạng ô nhiễm đất, nước, không khí ở toàn khu vực Tây Nguyên. Giải pháp mà chuyên gia cao cấp của TKV đưa ra tại hội thảo là chở nước biển bằng cơ giới từ Bình Định vượt đèo lên Đăk Nông để khử pH của bùn đỏ đã tạo ra sự nghi ngờ của các đại biểu về tính khả thi của giải pháp này do sự thiếu logic trong lập luận và tính toán. | |
Tiền hậu bất nhất
Đầu hội thảo, Tổng Giám đốc TKV Trần Xuân Hòa phát biểu: “TKV quyết tâm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở đổi mới, năng động, hài hòa với những giải pháp tối ưu trong quản trị kinh doanh hiện đại, tái tạo giá trị tài nguyên sau khai thác, hoàn thổ an toàn”. Ông còn nhấn mạnh, TKV sẽ kiên quyết duy trì triết lý phát triển minh bạch, bình đẳng và đồng lợi ích, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia khoa học, nâng cao trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp và tuân thủ các qui định của pháp luật.
Thực tế lại cho thấy rằng TKV chưa thực hiện được những điều đó ngay cả các bước đầu tiên theo quy định của pháp luật là tham vấn cộng đồng, niêm yết công khai những thiệt hại môi trường, ô nhiễm theo Nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Với một siêu dự án có quy mô ảnh hưởng đến nhiều người dân, vậy mà nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vẫn chưa được áp dụng.
Theo quy hoạch, trong khuôn viên khu Nhân Cơ sẽ có một nhà máy nhiệt điện công suất 30 Mw sử dụng nguồn than vận chuyển từ Quảng Ninh qua đường biển, sau đó chuyển về Đăk Nông theo quốc lộ 14. Mỗi ngày nhà máy này cần nguồn than khoảng 1000 tấn để sản xuất đủ lượng điện phục vụ việc xử lý quặng. Riêng việc vận chuyển than bằng đường bộ, mỗi ngày cần khoảng 40 chuyến xe loại trọng tải 25 tấn. Theo các nhà khoa học, quá trình này cũng sẽ phát sinh ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và những nguy cơ xã hội khác.
Rất nhiều câu hỏi đặt ra tại hội thảo về chính những vấn đề của công trường cách hội trường vài chục cây số nhưng các chuyên gia cao cấp của TKV phải trả lời bằng cách viện dẫn những ví dụ trên thế giới vì thiếu kinh nghiệm về bô-xít. Những thắc mắc về giải pháp xử lý bùn đỏ lại được TKV hẹn trả lời vào một lần khác!
Cẩn tắc vô ưu
Các ý kiến phản biện của các nhà khoa học cho rằng trước khi tiến hành siêu dự án bô-xít ở Tây Nguyên, hàng loạt các công việc sau cần được tiến hành và công khai lấy ý kiến phản biện từ nhiều phía:
-
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) cho toàn bộ quy hoạch phát triển bô-xít ở Tây Nguyên, bao gồm cả việc tính toán chi phí – lợi ích của chương trình.
-
Luận chứng chi tiết về công nghệ khai thác, đặc biệt là công nghệ xử lý bùn đỏ;
-
Luận chứng đánh giá tác động môi trường bao gồm tính toán việc ô nhiễm nguồn nước mặt, suy giảm nguồn nước ngầm, lan tỏa xuống hạ lưu các tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai và sông Serepok; sự suy giảm và giải pháp phục hồi đa dạng sinh học của thảm thực vật trên vùng đất Tây Nguyên; quy hoạch sử dụng đất và hoàn thổ sau khai thác;
-
Luận chứng đánh giá tác động đến mất cân bằng văn hóa bản địa trong giao thoa, đền bù tái định cư, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc bao gồm cả những giá trị phi vật chất; nguy cơ dịch bệnh của con người, gia súc, gia cầm trong vùng ảnh hưởng;
-
Luận chứng nâng cao dân trí thông qua đào tạo nghề và phát triển bền vững sinh kế cho cộng đồng.
Những vấn đề tranh luận giữa các nhà khoa học, các nhà kinh doanh, các nhà quản lý dù đồng tình hay phản đối đều thể hiện tình cảm, nỗi lo lắng về một Đăk Nông đang và sẽ chuyển mình trong chiến lược công nghiệp hóa bô-xít của tỉnh. Nỗi lo lớn nhất đó là sự an toàn liên thế hệ của đồng bào các dân tộc trên đất Đăk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Nguồn: http://www.thiennhien.net/news/140/ARTICLE/7005/2008-10-27.htmlTHƯ NGỎ (SỐ 2) GỬI QUÝ VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Posted On Monday, May 11, 2009 at at 10:07 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Việt Nam ngày 7 tháng 5 năm 2009
Kính gửi:
– Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và toàn thể thành viên Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và toàn thể thành viên Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Kính thưa quý vị Lãnh đạo,
Tiếp theo Thư ngỏ (số 1) gửi các đại biểu Quốc hội khóa 12, nay chúng tôi gửi Thư ngỏ này (đánh số 2 để tiện theo dõi) nhằm mục đích phân tích những sai trái trong Thông cáo của Bộ Công thương đề ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong đó đã sai về nội dung khi phản bác lại các luận điểm của bản Kiến Nghị đối với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, lại còn sai cả về thái độ khi quy chụp những trí thức đã ký tên vào kiến nghị là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.
Sở dĩ chúng tôi phải dùng hình thức thư ngỏ, vì kinh nghiệm cho thấy quý vị rất hiếm khi – thậm chí không bao giờ – đối thoại với những người gửi thư tới quý vị, ngay cả những công dân có công lớn với đất nước như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh, … thì thư gửi tới quý vị đều không được phản hồi, vậy nên, việc viết thư ngỏ là biện pháp bất đắc dĩ mà chúng tôi phải lựa chọn để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai.
Sở dĩ bài Thông cáo báo chí của Bộ Công thương được tung ra từ ngày 28 tháng 4 năm 2009, nhưng mãi đến hôm nay chúng tôi mới có thư ngỏ này, đó là vì Ban Khởi thảo Kiến nghị không muốn tự tiện, còn phải chờ ý kiến số đông, đặc biệt ý kiến từ các chữ ký tiêu biểu chủ chốt, xem có cần phải trả lời hay không, và nếu có thì nên trả lời thế nào. Vì chúng tôi biết rằng, sai lầm từ một người như ông Thứ trưởng Bộ Công thương thì có thể được làm ngơ, ngược lại những phản hồi này chỉ sai sót chút ít là đủ để nhận những đáp trả không xứng đáng với tư cách chúng tôi.
Kính thưa quý vị,
Ngày 28 tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Công thương phân phát một Thông cáo báo chí trong buổi họp giao ban tại Hà Nội, được cho là đến tay 300 nhà báo, nhưng không có công khai công bố trên bất cứ một tờ báo nào trong nước. Chúng tôi đã may mắn được đọc, và nhận thấy, nội dung của Thông cáo đó có nhiều điều sai, chúng tôi sẽ trình bày qua thư ngỏ này.
Trước hết, đề cập chung đến bản Kiến nghị ngày 12 tháng 4 năm 2009 về chủ trương khai thác Bauxite Tây Nguyên, một văn bản đầu tiên gồm 135 chữ ký tự nguyện của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tập hợp đủ các ngành nghề, kể cả những người có chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, kỹ thuật khai thác, v.v. và hiện đang được sự ủng hộ ngày càng tích cực của mọi người, chí ít là chưa thấy một lời lẽ phê phán nào, càng không thấy có ai chống lại. Chưa bao giờ thấy hiện tượng cả ngàn người nhất trí ký tên vào bản Kiến nghị trong đó rất nhiều người không quen biết nhau mà mới chỉ “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, thế mà bản Thông cáo báo chí của Bộ Công thương lại nói về những chữ ký đó một cách hàm hồ và chụp mũ trắng trợn như sau:
“[…] bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với nhiều thông tin không chính xác”.
Chúng tôi tạm bỏ qua chưa phân tích “kết luận” trên của Bộ Công thương, bỏ qua cả những kiểu cách quy chụp rất trịch thượng trong ngôn từ mà Bộ Công thương sử dụng, chỉ xin đi vào những lý lẽ cụ thể đã được Bộ Công thương phản bác.
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ nhất của chúng tôi được Bộ Công thương trích dẫn như sau:
“Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được “ký tắt” với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc hội”.
Giải trình của Bộ Công thương:
“Đây là nội dung hoàn toàn sai trái: Các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong giai đoạn hợp tác với các nước khối SEV. Chủ trương phát triển ngành công nghiệp này đã được nêu trong văn kiện của hai Đại hội Đảng IX, và X. Bộ Chính trị đã xem xét và có nhiều chỉ đạo về vấn đề này, giao cho Chính phủ lập quy hoạch. Dự án Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 được xây dựng từ những năm 2005, trong quá trình xây dựng có nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước v.v. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Đầu thập niên 1980, Việt Nam yêu cầu khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế hay COMECON) nghiên cứu dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin của Việt Nam. Mặc dù Liên Xô đang phải nhập khẩu 50% bauxite, chuyên gia Liên Xô, thông qua khối SEV, vẫn khuyến cáo Việt Nam “không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên”(1). Lúc ấy Tổng Bí thư là Lê Duẩn và Thủ tướng là Phạm Văn Đồng.
– Tháng 12 năm 2001, sau Đại hội Đảng IX, tân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bauxite nhôm Đắc Nông”(2).
– Tháng 5 năm 2002, báo chí Trung Quốc đưa tin: Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 800 triệu đô la Mỹ ở Tây Nguyên; Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo tiền khả thi sơ khởi về khả năng sản xuất hàng năm 1 triệu tấn alumin ở Đắc Nông(3).
– Tháng 12 năm 2003, báo chí Trung Quốc đưa tin: Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) tham gia dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên; Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án trị giá 1.35 tỷ đô la Mỹ và hai bên sẽ hoàn chỉnh báo cáo tiền khả thi cho dự án(4).
– Tháng 12 năm 2005, báo chí Trung Quốc đưa tin: Chalco đã ký một thỏa thuận ban đầu với Tập đoàn nhà nước Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) để cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên(5).
Tất cả những dữ kiện nêu trên đều xảy ra trước Đại hội Đảng X tổ chức vào tháng 4 năm 2006 khi vấn đề khai thác bauxite, sản xuất alumin mới lại được đề cập đến. Tuy nhiên, ngay cả khi “có chủ trương” rồi, thì tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam vẫn không được thông báo về chủ trương và dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin cho đến khi tin tức về dự án và phản biện được công khai hóa trên phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuối năm 2008.
Như vậy, giải trình của Bộ Công Thương là hoàn toàn không trung thực chứ không phải nội dung bản Kiến nghị của chúng tôi là sai trái, theo Thông cáo báo chí của họ.
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ hai được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):
“Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích”.
Ý kiến thứ ba được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):
“Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự “nổi tiếng” của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng)”.
Giải trình của Bộ Công Thương:
“Như trên đã nêu, hiện nay ở Tây Nguyên chỉ có 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ là do ta tự đầu tư (chủ đầu tư là Tập đoàn nhà nước TKV) mà không phải là dự án liên doanh với nước ngoài. Nội dung bản kiến nghị cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước.
…
"Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumin tại Việt Nam được thỏa thuận. Việc dự kiến hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài như Alcoa (Mỹ), Chalco (Trung Quốc), Uc-Russal (Nga) vẫn đang được các doanh nghiệp Việt Nam đàm phán và chưa có kết quả. Như vậy thông tin về việc Trung Quốc đóng của các mỏ bauxite và chuyển sang khai thác bauxite ở Việt Nam là không có tính hiện thực và không đúng với tình hình thực tế.
“Về vấn đề “Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc…”:
"Đối với dự án nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ, Tổng thầu gói thầu EPC là Công ty Chalieco, Trung Quốc (Công ty con của Chalco). Trong quá trình xét thầu, hồ sơ dự thầu của Công ty này đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu; Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumin tiên tiến. Thực tế sản phảm alumin của Chalco đạt tiêu chuẩn để sản xuất nhôm và có tính cạnh tranh trên thế giới. Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 9 tháng 4 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc chuyển giao công nghệ sản xuất alumin, đảm bảo công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Theo các báo quốc tế cũng như theo báo chí Trung Quốc, trong vòng hơn 5 năm nay, hàng ngàn doanh nghiệp khai thác quặng mỏ (bauxite, than, v.v.) của Trung Quốc phải đóng cửa do những quy định mới về bảo vệ môi trường hay đòi hỏi canh tân kỹ thuật. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp lớn như Chinalco không ngừng mở rộng thị trường khai thác bauxite, sản xuất alumin ra nước ngoài như Brazil, Australia, Guinea hay Việt Nam(6).
– Tháng 11 năm 2006, hãng thông tấn Reuters đưa tin trong thời gian Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC ở Hà Nội, Chalco và TKV đã ký hiệp nghị khung cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 1.6 tỷ đô la Mỹ(7).
– Tháng 5 năm 2007, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalco và TKV đã thỏa thuận cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin. TKV và Chalco sẽ thành lập liên doanh bauxite trong đó TKV nắm 51% vốn và thành lập liên doanh alumin trong đó Chalco nắm 60% cổ phần(8).
– Tháng 5 năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác”.
– Tháng 7 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalieco và TKV đã ký thỏa thuận tổng thầu gói thầu EPC xây dựng nhà máy sản xuất hàng năm 0.6 triệu tấn alumin tại Bảo Lâm, Lâm Đồng(9).
– Tháng 9 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin dự án khai thác bauxite giữa Chalco và TKV ngưng trệ do bất đồng trong vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở(10).
Tất cả những dữ kiện nêu trên nhấn mạnh hai điểm chính:
– Việc các doanh nghiệp Trung Quốc khai thác quặng mỏ ảnh hưởng nguy hại đến môi trường và việc họ mở rộng lãnh vực khai thác quặng mỏ ngoài Trung Quốc là một thực tế không thể chối cãi.
– Các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên và đang ráo riết thúc đẩy Việt Nam trong quá trình thi công. Mọi chậm trễ, nếu có, chỉ là yếu tố nhất thời.
Kính thưa quý vị,
Trong phần kết lá thư gửi Hội thảo về bauxite ngày 09/4/2009 tại Khách sạn Melia, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời khuyên hết sức thẳng thắn là:
“[…] không nên khai thác.
Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.”
Những điều được viết trong bản Kiến nghị của cả ngàn chữ ký chúng tôi chỉ là biểu hiện lý trí và tình cảm đã được Đại tướng bộc bạch. Qua văn bản kết luận gần đây của Đảng và Thủ tướng Chính phủ, nhân dân Việt Nam nhận thấy có nét tư duy tích cực, đã đặt ra yêu cầu thận trọng khi xử lý vấn đề bauxite Tây Nguyên(11). Song, chúng tôi vẫn thấy cần vạch ra mấy xu thế sau đây:
Có ý kiến cho rằng, do cam kết quốc tế, Việt Nam không thể ngưng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumina
Tình hình cụ thể cho thấy: nhân dân Việt Nam thông qua Quốc Hội, cơ quan quyền lực tối cao của mình, chưa hề có dịp biểu quyết về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bên “cam kết quốc tế” thực sự tôn trọng quyết định của cả dân tộc Việt Nam, thì đó là điều tốt cho họ. Còn không, nhân dân Việt Nam đã biết dựng nước thì cũng biết giữ nước. Nhân dân Việt Nam từng trải nhiều ách nô lệ, chắc chắn không một ai vì quyền lợi riêng mà bênh “bên đối tác” và phản bội lại dân tộc mình.
Có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế khu vực cho Tây Nguyên là một nhu cầu cấp bách, trong đó trữ lượng bauxite của Việt Nam lớn hàng thứ ba trên thế giới, nên càng cần tận dụng nguồn tài nguyên này vào phát triển kinh tế!
Tình hình cụ thể cho thấy: Dân tộc ta vừa ra khỏi chiến tranh, kinh nghiệm xây dựng đất nước vẫn còn non nớt. Tình trạng đó thể hiện ở năng lực yếu khi quản lý những hạng mục lớn mà thực tế làm ăn thất bát trong việc nhập hàng loạt các nhà máy mía đường, vụ ô nhiễm kéo dài cả chục năm do nhà máy bột ngọt Vedan gây ra, vụ “quy họach” ồ ạt các sân golf … chỉ là mấy thí dụ quá nhỏ. Việc học tập xây dựng một đất nước PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG không dễ dàng gì khi còn có đầu óc quản lý lối tiểu nông, khi còn có tệ nạn tham nhũng, và khi bắt đầu hình thành những tập đoàn lợi ích rất khó kiểm soát.
Nếu có ai đó đã nói “không khai thác bauxite bằng mọi giá”, thì mong rằng đó là lời nói chân thành. Người biết nghĩ như thế hãy đấu tranh chống lại lối suy nghĩ kiểu cờ bạc, đem dân tộc ra đặt 50/50 vào một canh bạc chắc gì đã năm ăn năm thua?
Cũng đấu tranh cả với thói vô trách nhiệm, thể hiện trong những cách phát ngôn thiếu suy nghĩ, thiếu tầm vóc của người có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Pháp quyền.
Kính thưa quý vị,
Vì hoàn toàn tin cậy vào quý vị, lại hy vọng rằng quý vị cũng cùng tâm tư với chúng tôi, nghĩa là cùng đặt quyền lợi Tổ quốc trên hết, chúng tôi trông đợi những quyết định đầy bản lĩnh và đầy trách nhiệm của quý vị. Khó khăn nào hơn khi Đại tướng thân yêu của chúng ta quyết định kéo pháo ra, chậm cuộc tổng tiến công lại, song Ngài đã làm được điều đó, và tên tuổi Ngài sẽ sống mãi cùng non sông đất nước!
Xin cám ơn quý vị Lãnh đạo đã lắng nghe lá Thư ngỏ số 2 này, trong đó chứa đựng những lời tâm huyết của những con người chỉ muốn rảnh rang làm công việc sáng tạo âm thầm của mình, không một mảy may thu vén cho riêng mình trong vụ việc liên quan đến dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin.
Xin chân thành cảm ơn quý vị,
Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên
GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng
Phụ chú:
(1). Thư Đại tuớng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 14/01/2009
(2). http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335
(3). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2002-05/09/content_118721.htm
(4). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2003-12/05/content_287458.htm
(5). http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/20/content_504770.htm
(6). “Refined Brown Aluminum Oxide from China”, U.S. International Trade Commission, March 2009; “Bauxitee and Alumina [Advanced Release]”, U.S. Department of Interior, U.S. Geological Survey, November 2008; Thailand Office of Industrial Economics Report, April 2005
(7). http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSHAN21294820061117
(8). http://english.vietnamnet.vn/biz/2007/05/698557/
(9). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=40298
(10). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=41689
(11). http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846241/
http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/10/810281/Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/thongbao/090507_thuguiquochoi2.htm
Thư ngỏ gởi ông Đoàn Văn Kiển
Posted On at at 3:50 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Thưa ông Đoàn Văn Kiển,
Tôi viết thơ này và định gởi cho ông lâu rồi, nhưng không biết địa chỉ văn phòng của ông ở đâu mà gởi. Nhân dịp trang mạng www.bauxitevietnam.info được lập ra để mọi người tham gia bàn luận về bauxite, tôi xin mượn diễn đàn để gởi thư đã viết này đến ông.
Là người dân đóng thuế cho nhà nước, tôi nghĩ mình có quyền đóng góp ý kiến đến những người nhận lương hàng tháng từ tiền thuế của người dân, bất kể đó là ai, người nào. Mong ông Kiển hãy đọc thư ngỏ nếu ông còn chút lương tâm của người nhận lương từ tiền thuế của người dân Việt Nam. Còn nếu tiền lương ông Kiển nhận không phải từ tiền mồ hôi và nước mắt của người dân Việt Nam thì ông Kiển khỏi cần đọc.
Ngày 13/04/2009
1- Hơn 10 năm chuẩn bị, tại sao dự án không được công bố rộng rãi?
Đó không phải là việc của tôi. Trước đó, tôi có liên quan đâu, làm sao tôi trả lời(?!)
- Ông có thể chứng minh tính cấp bách, tính cần thiết thực hiện dự án này?
Không có nhiều thời giờ đi chứng minh tính cấp bách. Đất nước này có tài nguyên, cần phải khai thác, và nếu khai thác có hiệu quả cho kinh tế, xã hội, và bảo vệ được môi trường, giúp được cho địa phương phát triển, bớt nghèo cho dân thì tại sao không làm? [a]
TKV mà người đứng đầu là ông Kiển đang triển khai các dự án để thực hiện "Có tài nguyên thì cần khai thác!” mà ông Kiển nói không liên quan và không phải việc của ông thì thật là điều phi lý. Tôi không nghĩ là ông Kiển không trả lời được mà vì ông Kiển là một người vô trách nhiệm hay vì một lý do nào đó mà ông không trả lời câu hỏi trên. Hàng ngàn năm trước, loài người còn lưu lại bút tích, chẳng lẽ chuyện trong vòng 10 năm trước mà không còn lưu lại giấy tờ gì hay sao? Với tư cách là người đứng đầu TKV, nếu ông Kiển là một người có trách nhiệm với TKV và người dân Việt Nam thì ông phải tự đi tìm những nguyên nhân kia. Tìm đọc các văn bản cũ để tìm ra nguyên nhân vì sao trước đây Chính phủ ta không khai thác bô-xít dù đã tìm hiểu, nghiên cứu. Ngoài ra, tôi xin được hỏi ông Kiển rằng, tài nguyên này là tài nguyên của ai? Của hơn 83 triệu dân Việt Nam hay là của một nhóm người nào đó? Và như ông Kiển nói "nếu", vậy tôi xin được hỏi ông "nếu ông thất bại thì sao"? Lúc đó ông Kiển có đứng ra chịu trách nhiệm hay không? Ông có gánh nổi hậu quả của nó hay không?
2- Lỗ hay lãi bây giờ chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời. [a]
Ông Kiển nói vậy khác nào dân coi đua ngựa? Mọi người đều ĐOÁN MÒ và chờ ngựa về đích mới biết. Vậy thì các dự án khai thác bô-xit với số vốn đầu tư gần 1 tỷ đô la là một cuộc "đua ngựa", không hơn không kém.
3- Các cụ dạy: muốn ăn thì lăn vào bếp. Không có cái gì là miễn phí cả... TKV tính, nếu người nước ngoài không cùng làm đường sắt thì mình vẫn phải làm. Chính phủ sẽ có chính sách nào đó để làm. [a]
Có phải vì ông Kiển "muốn ăn" nên ông đang "lăn vô bếp" để làm cho bằng được mọi giá đó không thưa ông Kiển? TKV khai thác bô-xit, làm đường thì có nhiều khoản đầu tư để ông Kiển "ăn nhiều" nên ông nói "TKV tính". Ông có biết đất nước đang cần tiền để đầu tư cho giáo dục hay không? Sao ông không biết nghĩ cho nền giáo dục Việt Nam, tương lai của đất nước sau này? Chứ ba cái việc "đào mỏ" chỉ là vắt kiệt tài nguyên mà thôi, không phải là "tương lai" của dân tộc, của đất nước, thưa ông!
4- Còn theo ông Đoàn Văn Kiển - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản VN (TKV): Sự hình thành cụm kinh tế công nghiệp bauxite khu vực sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế dịch vụ như giao thông vận tải, cơ khí, xây dựng, thương mại, khách sạn và du lịch, vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống... Đây là tiền đề để tạo nên sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế khu vực từ thuần nông - lâm nghiệp sang kinh tế đa ngành nghề, trong đó có công nghiệp là thành phần kinh tế cơ bản. [b]
Tôi chưa từng nghe ai nói xây dựng "thương mại, khách sạn và du lịch, vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống" ở gần những khu khai thác mỏ cả, thưa ông. Vì ở đó có gì ngoài "một vùng đất chết". Dân mỏ thì nghèo và dân bản làng thì khó khăn. Vậy tiền đâu mà họ vui chơi giải trí? Cũng không ai điên khùng đi du lịch đến vùng khai thác bô-xít để mà hít bụi cả. Còn xây dựng thì ai xây dựng gì ngoài mấy cái nhà máy đầy bụi bặm! Hay là “vắt đất” còn chưa đủ, ông Kiển muốn vắt luôn những đồng lương kém cỏi được đổi bằng mồ hôi và nước mắt của dân mỏ và bản làng?
| |
| |
| |
| Nếu biến được những vùng đất chết do khai thác bô-xít này thành những khu vui chơi giải trí, khu du lịch thì chắc nhìn nó không điêu linh như thế này, thưa ông Kiển!!! |
Chào ông,
Lê Thành Nguyên Vũ
http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/6642/index.aspx [a]
http://www.laodong.com.vn/Home/Dat-nha-may-alumin-o-Tay-Nguyen-la-hop-ly/20095/136630.laodong [b]
TKV sẽ tiếp tục tổ chức nhiều hội thảo về bô-xít
Posted On Sunday, May 10, 2009 at at 11:45 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Lãnh đạo Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho hay sẽ tiếp tục mở nhiều cuộc hội thảo khoa học để tiếp thu những ý kiến hay, nhằm bảo đảm tổ hợp bô-xít nhôm Lâm Đồng hoạt động “thân thiện với môi trường”.
>> Đại dự án bô-xít Tây Nguyên và ý kiến nhiều chiều
Làm việc với đoàn thanh tra của Bộ Tài nguyên - Môi trường cuối tuần qua, lãnh đạo TKV đưa ra lời giải cho bài toán xử lý bùn đỏ vốn đang gây quan ngại cho dư luận, và quả quyết việc xử lý này sẽ không làm ảnh hưởng tới môi trường.
| Khu vực sẽ làm hồ chứa bùn đỏ thuộc Nhà máy bô-xít Tân Rai, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Ảnh: Tuổi Trẻ |
Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường Phạm Khôi Nguyên nhấn mạnh: “Vấn đề bùn đỏ của tổ hợp bô-xít nhôm Lâm Đồng không chỉ là chuyện riêng ở đây, mà đó là chuyện chung của ngành công nghiệp nhôm Việt Nam, là dự án có ý nghĩa tiền đề quyết định “có hay không có” những dự án khác sau này, là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân và sự phát triển “ xanh - không ô nhiễm” của Tây Nguyên".
Do đó, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên yêu cầu việc xử lý bùn đỏ phải dựa trên “tầm nhìn xa một cách đồng bộ”.
Theo TKV, trên cơ sở báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được Bộ Tài nguyên - Môi trường phê duyệt, TKV sẽ cập nhật, bổ sung những, giải pháp, công nghệ mới để câu chuyện “bùn đỏ không còn là nỗi lo của xã hội”.
Chủ tịch HĐQT TKV Đoàn Văn Kiển cho biết, Tập đoàn đã tính toán cụ thể khối lượng bùn đỏ thải, khu vực thải và việc xử lý chất thải này theo nhiều phương án khả thi nhất.
Theo đó, Tổ hợp bô-xít - nhôm ở Lâm Đồng đã quy hoạch hồ chứa bùn đỏ với tổng diện tích lên đến 318 ha. Hồ này nằm trong một thung lũng nên không ảnh hưởng đến việc làm trôi chảy bùn đỏ đến nơi khác, không ảnh hưởng đến mạch nước ngầm trong khu vực...
“Mặc dù đã xây dựng những giải pháp cho vấn đề bùn đỏ, song với tinh thần cầu thị, mong muốn việc xử lý bùn đỏ đạt hiệu quả cao nhất, TKV sẽ tiếp tục mở nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều diễn đàn công nghệ... để lắng nghe, tiếp thu những ý kiến hay, những giải pháp tốt để điều chỉnh, bổ sung nhằm bảo đảm tổ hợp bô-xít nhôm Lâm Đồng hoạt động “thân thiện với môi trường” như chỉ đạo của Chính phủ", ông Đoàn Văn Kiển khẳng định.
“Giải pháp cơ bản đã có. Vấn đề quan trọng còn lại đó là lý thuyết phải được chứng minh bằng thực tiễn, nói phải đi đôi với làm bằng những hiệu quả thiết thực. Có thế thì bài toán bùn đỏ trong công nghiệp chế biến alumin của các tổ hợp bô-xit nhôm mới được giải hoàn chỉnh ”, một lãnh đạo Bộ Tài nguyên - Môi trường nói.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên cũng yêu cầu, song song với các giải pháp kỹ thuật cho hồ chứa bùn đỏ, chủ đầu tư và tỉnh ngay từ bây giờ phải có kế hoạch di dời các khu dân cư xa khu vực hồ chứa bùn đỏ (theo hướng mở rộng hồ chứa trong vòng 20 - 30 năm tới) chứ không nên mở tới đâu mới di dời dân tới đó.
Các khu dân cư không được nằm vùng hạ lưu hồ chứa hoặc sử dụng mạch nước ngầm thấp hơn hồ chứa bùn đỏ.
Theo TTXVNNguồn: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846820/
Công Nhân TQ vào VN: lách để viết?
Posted On at at 10:40 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Trong khi những báo nhiều độc giả như Tuổi Trẻ Online bất ngờ dừng loạt bài về công nhân TQ ở Tây Nguyên, làng báo TPHCM vẫn còn một tờ tiếp tục các bài viết về vấn đề này.
| |
Một nhà báo lâu năm ở VN nói với chúng tôi rằng, không phải ngẫu nhiên một số báo phải ngưng một đề tài và báo khác lại được tiếp tục. Theo lời ông, có một vài biệt lệ và những báo làm đề tài nhậy cảm thường tiếp cận vấn đề rất khéo léo, một hình thức lách để viết mà vẫn tường trình được sự việc.
Saigon Tiếp Thị là báo in và có thêm bản điện tử sgtt.com.vn, ngày 14/4/2009 tờ báo có phóng sự ghi nhận sự kiện hàng trăm công nhân TQ đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai Lâm Đồng. Gần đây nhất ngày 6 /5/2009, Saigon Tiếp Thị đưa lên mạng bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ dưới hình thức phóng sự, ghi nhận sự kiện hơn 500 công nhân Trung Quốc đã vào VN từ ba năm qua, lao động tại các công trường thủy điện ở tỉnh Quảng Nam.
Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’
Trước khi trở lại với bài báo SGTT, chúng tôi muốn tìm câu trả lời là thực sự đã có bao nhiêu công nhân TQ hoạt động ở VN, đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông. Cuối tháng Tư, các báo ở VN đều đưa tin ông Nguyễn Thanh Hòa Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội cho biết, có khoảng 50 ngàn người nước ngoài đang làm việc tại VN và 30% trong số này thuộc diện vào Việt Nam làm việc không hợp pháp. Con số chính thức này có thể chưa phản ánh đúng thực tế, vì theo số liệu của Bộ Xây Dựng và Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí, các nhà thầu Trung Quốc đang nắm giữ vị trí tổng thầu nhiều dự án ở VN, bao gồm thủy điện nhiệt điện, nhà máy xi măng và phân bón. Theo Tổng Hội Xây Dựng VN thì đã có hàng vạn công nhân TQ có mặt ở các công trình mà doanh nghiệp TQ trúng thầu. Doanh nghiệp TQ có thói quen mang theo công nhân làm việc kể cả lao động phổ thông, gồm luôn anh nuôi chị nuôi, công nhân vệ sinh và bảo vệ.
| Chắc chắn có khá nhiều công nhân lao động phổ thông nước ngoài đang làm việc ở VN một cách bất hợp pháp. TS Nguyễn Quang A, VT viện Nghiên Cứu Phát Triển |
Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’ theo cách nói vui của người bình dân. Trong dịp trả lời đài ACTD, TS Nguyễn Quang A Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển, một tổ chức độc lập ở Hà Nội đưa ra nhận định:
“Chắc chắn có khá nhiều công nhân lao động phổ thông nước ngoài đang làm việc ở VN một cách bất hợp pháp. Con số cụ thể là bao nhiêu thì tôi cũng chỉ được biết qua thông tin trên báo chí, nhưng mà người dân có thể cảm nhận được việc này qua một số dự án mà các nhà đầu tư nước ngoài trúng thầu.”
Trở lại bài báo ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ trên báo SGTT bản điện tử ngày 6/5. Bài báo được dẫn nhập, Trên cung đường Hồ Chí Minh, đoạn đi qua huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam có một làng công nhân người Quảng Tây Trung Quốc. Họ đã đến đây hơn ba năm để xây dựng hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn 2.
Phóng viên Đoàn Nguyễn tác giả bài phóng sự ghi nhận rằng, cho đến thời điểm cuối tháng 4 trên đại công trường này, có 523 công nhân Trung Quốc. Dự án thủy điện này sắp hoàn thành, người TQ đã có ngay công trình thủy điện mới, cũng ở miền Trung Việt Nam để thi công tiếp.
Nỗi đau của nước nhược tiểu
Công ty Cổ Phần Za Hưng thuộc tập đoàn Hà Đô, Bộ Quốc Phòng, địa chỉ 25 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội, là chủ đầu tư công trình thủy điện Za Hung. Ông Nguyễn Văn Đảm, phó tổng giám đốc công ty, cho biết tổng đầu tư cho công trình là 600 tỉ đồng, người Trung Quốc đã thắng hai trong ba gói thầu xây lắp thuộc về công ty cổ phần Quế Năng, gói thầu lắp đặt thiết bị thuộc Công Ty Cổ Phần Quế Võng. Theo chân hai công ty này có 340 người Trung Quốc.
Vẫn theo SGTT, ông Nguyễn Văn Đảm nhận xét, công nhân Trung Quốc làm việc hiệu quả hơn công nhân Việt Nam, thể hiện ở ba khía cạnh, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn và có ý thức kỷ luật cao hơn. Tờ báo trích lời ông Nguyễn Văn Tê trưởng công an huyện Đông Giang cho biết, trong ba năm ở hai công trình của người Trung Quốc chỉ xảy ra 2 vụ ẩu đả với người địa phương, nếu so với những công trình chỉ có lao động Việt Nam là quá êm thắm.
| Công nhân Trung Quốc làm việc hiệu quả hơn công nhân Việt Nam, thể hiện ở ba khía cạnh, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn và có ý thức kỷ luật cao hơn. Ông Nguyễn Văn Đảm, PTGĐ Cty Cổ Phần Za Hưng |
Vừa rồi là một phần bài Người Quảng Tây ở Quảng Nam trên báo mạng SGTT ngày 6/5/2009. Trong phóng sự này, nhà báo dành cơ hội cho giới chức Trung Quốc được lên tiếng, ông Ngô Hải Hoa 30 tuổi, phó giám đốc dự án công trình thủy điện Za Hung, người trực tiếp cai quản 300 lao động Trung Quốc phát biểu rằng, công nhân TQ muốn có việc làm chứ không muốn định cư. Ông Hoa tâm sự là bên TQ không dễ kiếm việc, làm việc ở vùng rừng núi này của VN tuy xa nhà nhưng thu nhập cao hơn. Thu nhập lao động phổ thông 4.000 tệ mỗi tháng, chúng tôi tính ra tiền đồng VN tương đương gần 10 triệu 400 ngàn đồng. Lao động phổ thông lương như thế quả là quá cao so với công nhân VN. Còn với lương cán bộ quản lý như cá nhân ông Hoa vào khoảng 6.000 nhân dân tệ tức gần 16 triệu tiền Việt. Cán bộ quản lý Ngô Hải Hoa thêm rằng, cuộc sống ở công trình Za Hung không có gì phàn nàn. Thức ăn thì có đầu bếp Trung Quốc nấu, mùa nào thức nấy, chợ không thiếu thứ gì. Chỗ ở cũng không chật chội, mỗi công nhân 4 mét vuông, tổ trưởng thì hai người một phòng 20 mét vuông, còn cán bộ quản lý thì được phòng riêng. Cán bộ TQ Ngô Hải Hoa cho biết tại công trình có internet, có chảo vệ tinh bắt được 30 đài TQ, có sân bóng đá, bóng chuyền điều ông Hoa cho là không khác gì đang ở nhà bên TQ.
Quả là cách tiếp cận vấn đề của báo mạng SGTT rất khéo léo, phải đến những dòng cuối cùng mới thấy được nỗi đau của người nhược tiểu. Tác giả Đoàn Nguyễn ghi nhận rằng, ở hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn số 2 này, người Việt đã bị gạt ra trong cuộc kiếm tìm việc làm ở ngay trên quê hương mình. Đây là những công việc phổ thông ai làm cũng được. Ông Đỗ Tài, Phó chủ tịch UBND huyện Đông Giang xác định là khi triển khai hai dự án vừa nói, chính quyền địa phương đã yêu cầu nhà đầu tư phải ưu tiên sử dụng lao động địa phương. Theo lời ông Tài nhà đầu tư đã chỉ tuyển vài ba người ở địa phương và con số thật quá nhỏ bé nếu so với lao động Trung Quốc.
| Trung Quốc có chính sách hẳn hoi rõ ràng là người ta khuyến khích những nhà thầu Trung Quốc khi đi nhận thầu, thì đem được càng nhiều lao động Trung Quốc ra nước ngoài càng tốt. TS Phạm Sĩ Liêm, Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng |
Báo mạng SGTT nhận định rằng, có thể ý chí của địa phương và quan điểm của nhà đầu tư còn chưa gặp nhau. Cũng có thể lao động TQ có những ưu điểm nổi trội hơn lao động nội địa. Nếu đúng như vậy, lao động Việt cũng cần xem lại mình trong phiên chợ việc làm toàn cầu đầy sự cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Chính sách Trung Quốc
Nhận định về sự kiện lao động TQ hoạt động ở VN trong khi công nhân VN không có nhiều cơ hội tìm việc. Trả lời Mặc Lâm đài ACTD, nguyên Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng TS Phạm Sĩ Liêm phát biểu:
“Trung Quốc có chính sách hẳn hoi rõ ràng là người ta khuyến khích những nhà thầu Trung Quốc khi đi nhận thầu, thì đem được càng nhiều lao động Trung Quốc ra nước ngoài càng tốt. Cũng như sử dụng càng nhiều càng tốt vật liệu xây dựng do Trung Quốc sản xuất. Hình như chính phủ họ còn đặc biệt ưu đãi những doanh nghiệp sử dụng được trên 35% tổng giá trị vật liệu sử dụng của công trình.”
Một khía cạnh khác trong bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT, mặc dầu các công trình thủy điện ở huyện miền núi Đông Giang dân cư địa phương là người dân tộc thiểu số, thế nhưng những cuộc tình giữa công nhân TQ và cư dân địa phương vẫn diễn ra. Trong bài có đoạn nói về ‘Đứa con trắng bóc của người Cơ Tu’ mô tả khá rõ ràng chuyện một bé gái lai Tàu ra đời, kết quả của một vụ ngoại tình giữa một phụ nữ người dân tộc Cơ Tu và công nhân TQ. Bà vợ người Thượng này còn dọa bỏ chồng đi theo người TQ khi các công trình ở Đông Giang hoàn tất.
Thưa quí thính giả câu chuyện ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT mới chỉ là một nét chấm phá, một vệt nhỏ trong bức tranh sẫm màu về sự kiện công nhân TQ đang có mặt khắp nơi ở VN, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam, Tây Nguyên và tới tận miền Đông Nam Bộ. Hy vọng còn được đọc nhiều bài báo khác sinh động như vậy.
Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
"Món quà bauxite cho Trung Quốc"
Posted On Saturday, May 9, 2009 at at 1:59 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vòng công du một tuần sang Trung Quốc
Sau hàng loạt bài trên các báo quốc tế về vụ khai thác bauxite gây điều tiếng ở Việt Nam, nay tờ Financial Times của Anh nói hẳn rằng đây chính là "món quà của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng" cho phía Trung Quốc.
Bài của David Pilling hôm 06/05/2009 nhìn vào cách thức một "nước Trung Hoa đang vươn lên" tìm cách làm lu mờ Nhật Bản và tăng sức ép lên các nước láng giềng.
Nhưng trong hoàn cảnh của Việt Nam, tác giả nói vụ khai thác bauxite là vấn đề nổi bật, cho thấy thực chất mối quan hệ với Trung Quốc.
Lần đầu tiên, một báo lớn ở Phương Tây dùng từ "quốc gia phụ thuộc" (client states) để nói về cách mối quan hệ này đang hướng tới.
Theo tác giả, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng có vòng công du một tuần thời gian gần đây để "được tiếp kiến" các lãnh đạo Trung Quốc.
Hiển nhiên, điều này không nói lên gì về cá nhân Thủ tướng Dũng vì ông cũng chỉ làm như Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy "tự đến khách sạn để được gặp ông Hồ Cẩm Đào" trong dịp Hội nghị G20 ở London vừa qua.
Nhưng điểm quan trọng là, theo bài báo, thủ tướng Việt Nam "đã mang theo các món quà bauxite của Việt Nam, thứ tài nguyên tạo ra nhôm" (nguyên văn: He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for aluminium).
Tác giả David Pilling gọi đây là cách "triều kiến Trung Quốc" (pay tribute to China) và nói về tương quan thế lực hai bên.
Việt Nam đã hoàn toàn bất lực khi Trung Quốc đuổi ExxonMobil ra khỏi dự án với PetroVietnam
Bình luận của Financial Times
Thâm hụt mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc cũng là vấn đề được hàng loạt báo chí quốc tế như trên Wall Street Journal, New York Times, The Economist hay Asia Times nêu ra như một lý do vì sao chính quyền Việt Nam cứ quyết tâm thúc đẩy vụ bauxite.
Nhưng David Pilling nói Việt Nam "đã hoàn toàn bất lực khi Trung Quốc đuổi ExxonMobil ra khỏi dự án với PetroVietnam" năm ngoái.
Trong khi không có ai ở Việt Nam, nước từng bị Trung Quốc "chiếm đóng 1000 năm" muốn vội vã trải thảm đón đầu tư của Trung Quốc Financial Times viết rằng chính quyền Việt Nam đã cấm một tờ báo nêu ra vấn đề gai góc về lãnh thổ với Trung Quốc.
Nhắc đến những phản đối vì lý do môi trường tại Việt Nam khi nhà nước đưa ra dự án bauxite, bài báo nói "Chính quyền cũng chỉ nói cho qua chuyện những lo ngại về môi sinh".
So sánh với khu vực
Một điểm đáng chú ý khác là sự so sánh vị thế và cách hành xử của Hàn Quốc và Việt Nam trong quan hệ với Bắc Kinh.
Bài báo nói Trung Quốc cũng là bạn hàng lớn nhất của Hàn Quốc và ngược lại, các công ty Nam Hàn đã đầu tư tới 40 tỷ đô vào Trung Quốc.
Trung Quốc nắm trong tay lá bài Bắc Hàn khiến Nam Hàn phải e ngại
Mặt khác, Trung Quốc cũng nắm con bài Bắc Hàn vốn là yếu tổ an ninh chủ đạo cho sự sống còn của nhà nước Nam Hàn.
Hàn Quốc cũng có lúc công khai tỏ thái độ khi định nghĩa các quyền lợi chiến lược và ngoại giao của họ đối với Trung Quốc.
Financial Times, bản trên mạng đưa tin rằng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc giữa tháng Tư đã công bố một bản phúc trình nói rằng "ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc có thể khiến nỗ lực ngoại giao của Seoul nhằm đảm bảo an ninh về tài nguyên bị nguy hại".
Sự việc đã gây ra một cú chao đảo nhỏ trong quan hệ hai bên, nhất là vì báo cáo cũng đề nghị Seoul phải "có biện pháp chống đỡ đối với Trung Quốc", nhưng rút cuộc các quan chức ngoại giao Hàn Quốc đã phải tìm cách giải tỏa căng thẳng vì quan hệ song phương quá quan trọng.
Còn đối với Đài Loan, đây là ví dụ thứ ba cho thấy sức hút của Trung Quốc.
Tuy Đài Bắc vẫn mua 6,5 tỷ đôla vũ khí từ Hoa Kỳ để phòng thủ trước Trung Quốc, có vẻ như bên cạnh chiến lược cải thiện quan hệ kinh tế, ngoại giao với Bắc Kinh vẫn được xúc tiến.
Vẫn Financial Times nói chính phủ Mã Anh Cửu gần đây cũng cho các công ty Trung Quốc vào đầu tư và rất có thể sẽ chuẩn thuận vụ công ty China Mobile mua 12% cổ phần trị giá 533 triệu đô trong công ty Far EasTone chuyên về điện thoại di động ở Đài Loan.
Không biết có phải tình cờ hay không mà cùng lúc Trung Quốc đã đồng ý Đài Loan hưởng quy chế quan sát viên tại Tổ chức Y tế Thế giới.
Bài báo kết luận rằng với thế lực của Nhật Bản ngày càng giảm sút vì kinh tế trì trệ, Trung Quốc đang tìm cách gây sức ép lên các nước láng giềng, trong đó Việt Nam là nước bị ép nhiều nhất.
TKV: "Làm bô-xít hiệu quả hay không, chờ thực tế mới biết"
Posted On Monday, April 13, 2009 at at 1:19 PM by Bô-xít Tây Nguyên
| (TuanVietNam) - Trong khi Chủ tịch HĐQT Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam Đoàn Văn Kiển khẳng định dự án bô-xít đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường và cam kết chỉ thuê chuyên gia kĩ thuật thì lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng cho biết, vừa rồi, nhà thầu Chalco đã có vi phạm, đưa lao động giản đơn sang làm việc ở Việt Nam, trong đó có 20 người sử dụng visa du lịch. | |||||||||||
|
Chủ tịch HĐQT Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam Đoàn Văn Kiển Thực ra, dự án Tân Rai đã được chuẩn bị đầu tư từ thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000. Đến giai đoạn 2001-2005, Tổng công ty khoáng sản chuẩn bị đầu tư. Dự án đã phải bàn đi, tính lại, có sự tham gia của tư vấn Pháp về nghiên cứu khả thi. Đến khi Tổng công ty khoáng sản nhập vào TKV theo quyết định ngày 26/2/2005, chúng tôi tiếp nhận dự án Tân Rai. - Nghĩa là chuẩn bị hơn 10 năm, nhưng vì sao phải đến thời điểm này mới thực hiện? Vì không đủ tiềm lực. - Hơn 10 năm chuẩn bị, tại sao dự án không được công bố rộng rãi? Đó không phải là việc của tôi. Trước đó, tôi có liên quan đâu, làm sao tôi trả lời(?!) - Ông có thể chứng minh tính cấp bách, tính cần thiết thực hiện dự án này? Không có nhiều thời giờ đi chứng minh tính cấp bách. Đất nước này có tài nguyên, cần phải khai thác, và nếu khai thác có hiệu quả cho kinh tế, xã hội, và bảo vệ được môi trường, giúp được cho địa phương phát triển, bớt nghèo cho dân thì tại sao không làm? Xã hội dân chủ, mỗi người có ý kiến riêng. Là nhà đầu tư, chúng tôi có quan điểm của chúng tôi. Quan điểm của TKV là phát triển một cách hài hoà các lợi ích đó. Khi đạt được như vậy và thấy được hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường thì mới làm, và chúng tôi cố sức để làm. Hiệu quả hay không, phải chờ thực tế làm mới biết! Quyết định chuyện hệ trọng: bô-xít Tây Nguyên rất khó. Khó nhất là thay đổi tư duy phát triển. Xem bô xít là cú đấm của nền kinh tế, nhưng đất nước có thực sự mạnh qua cú đấm này không? Không chỉ hợp tác với quốc tế, mà phải hỏi, qua việc hợp tác này, bao giờ TKV sẽ có công nghệ cho Việt Nam? 3 mục tiêu của các dự án bô-xít là: hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Cả ba lợi ích này đều phải được đảm bảo. Về hiệu quả kinh tế, nếu dự án nếu không hiệu quả, làm sao chúng tôi đầu tư? Người nói dự án không hiệu quả chỉ là ý kiến cá nhân, chúng tôi sẽ ghi nhận để kiểm tra lại quan điểm của TKV. Cũng phải nói rõ thêm, là chủ đầu tư, chúng tôi phải tính mọi khía cạnh, phù hợp với luật pháp, tiêu chuẩn quốc gia, và hướng tới tiêu chuẩn quốc tế. Chúng tôi không thể làm dự án một cách hồ đồ. Hai là, vốn huy động cho các dự án từ 680 đến 900 triệu USD, chỉ 30% là vốn chủ sở hữu TKV bỏ ra. Còn 70% phải đi vay. Trong thời buổi khủng hoảng này, vay đâu có dễ. Các ngân hàng trong nước, nước ngoài đều phải kiểm toán, thẩm định các dự án mới cho vay. Chúng tôi đi vay cũng không có bảo lãnh của Chính phủ, Bộ Tài chính. Hơn nữa, những tính toán này là cho cả đời dự án 30 - 50 năm, trên cơ sở dự báo thị trường tương lai. Năm nào đó, thị trường xuống, dự án không hiệu quả cũng là chuyện thường. Cũng sẽ có năm giá nhảy vọt, mình thu lãi nhiều hơn. Lịch sử phát triển công nghiệp của Việt Nam cho thấy, nhiều dự án được cho là không hiệu quả, các nhà đầu tư tính toán vẫn thấy lãi, Chính phủ đồng ý làm và đến nay nó đã chứng minh hiệu quả. Lỗ hay lãi bây giờ chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.
Nói thế không đúng. Dự án đang trong quá trình kiểm toán lại theo điều kiện hiện nay. Những số liệu đó chưa phải là báo cáo cuối cùng. Không thể chỉ căn cứ vào vài tiểu tiết để đưa kết luận. Quan điểm của TKV là phải nhìn vào cả đời dự án, nhìn tương lai để tính toán các kịch bản khác nhau. Chúng tôi đều phải tính toán, khảo sát các phương án để đi đến kết luận. “Muốn ăn thì lăn vào bếp” Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: "Không thể phát triển bô-xít bằng mọi giá... Nếu lỗ thì nhất định không làm". Ảnh: Giang VT Các cụ dạy: muốn ăn thì lăn vào bếp. Không có cái gì là miễn phí cả. Đường sắt là cho cả một quy hoạch phát triển Đắk Nông và Lâm Đồng. Chúng tôi dự kiến xây đường sắt khổ 1,43 m và sẽ nối thẳng sang Campuchia. (xem thêm: Mong Quốc hội quan tâm đến Quy hoạch phát triển đường sắt) Bên phía Campuchia đã có sẵn các nhà máy luyện alumina. Như vậy, đường sắt này không chỉ dùng cho công nghiệp nhôm mà còn phục vụ cho việc phát triển vùng tam giác Việt Nam - Campuchia - Lào. Vốn làm đường sắt có thể Chính phủ sẽ huy động từ nguồn ODA. Phần còn lại, các nhà đầu tư phải huy động. Khi dự án phát triển, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm. Họ cam kết, nếu chúng ta đồng ý cho họ làm, thì họ sẽ cùng đầu tư đường sắt. TKV tính, nếu người nước ngoài không cùng làm đường sắt thì mình vẫn phải làm. Chính phủ sẽ có chính sách nào đó để làm. Vốn chủ sở hữu phải lấy được từ nguồn lãi khai thác quặng. TKV còn nhiều nguồn khai thác khác như than...Chúng tôi có thể dành phần lãi tại thời điểm nào đó để phát triển. Không phải cứ nhà thầu Trung Quốc là công nghệ thấp
Nói công nghệ Trung Quốc áp dụng cho chúng ta là công nghệ thấp, dư quặng trong phế thải rất nhiều là một nhận xét hồ đồ. Báo cáo đánh giá tính khả thi của chúng tôi là do bên Pháp làm, không phải Trung Quốc. Công nghệ làm alumina là công nghệ gốc của Bayer, có từ cuối thế kỷ trước. Các công ty nhôm lớn trên thế giới, ngành công nghiệp nhôm đã có từ lâu nay rồi, như công ty Alcoa của Mỹ, Russal của Nga, BHPB của Anh... Sau này, Trung Quốc phát triển và làm có hiệu quả. Nhập công nghệ về, các công ty của Trung Quốc đã sáng tạo thêm từ công nghệ nguồn Bayer. - Vậy tại sao Chalco lại được chọn? Phải nói thẳng, số nhà thầu dự không nhiều. Không phải công ty nào sản xuất alumina nào họ cũng tham gia. Alcoa (Mỹ), Russal (Nga) có chính sách riêng, chỉ đầu tư chứ không bao giờ đi dự thầu. Công nghệ mà các nhà thầu chào thì giống nhau. Cuối cùng chỉ còn lại các nhà thầu của Trung Quốc. Chalco được chọn vì họ đưa mức giá cạnh tranh; họ dầy dặn kinh nghiệm, và họ đã có nhiều chục năm phát triển ngành công nghiệp nhôm của Trung Quốc.
Nhà máy Nhân Cơ cũng đấu thầu quốc tế, nhưng lúc đó là đấu thầu với công suất 300 nghìn tấn alumina/năm. Sau đó, TKV thấy rằng, nếu hai nhà máy cùng công suất sẽ dễ quản lý hơn. Vì thế, chúng tôi kiến nghị Chính phủ tăng công suất của Nhân Cơ lên 600 nghìn tấn, bằng Tân Rai. TKV đã xin phép trên cơ sở kết quả đấu thầu quốc tế của Tân Rai để chọn nhà thầu Chalco cho Nhân Cơ. Chính phủ đã chấp nhận lựa chọn này. - Thế nhưng, khi đấu thầu Chalco đưa con số chào 323 triệu USD, đến khi ký hợp đồng với TKV lại ghi là hơn 466,29 triệu. Lý do là gì? Thời gian nộp hồ sơ thầu và xét thầu là khác nhau. Đó là khoảng thời gian lạm phát cao, tỷ giá giữa các đồng ngoại tệ với nhau thay đổi, nên tất cả các tính toán phải điều chỉnh. Chúng tôi đã báo cáo các bộ thẩm định và Chính phủ có ý kiến xử lý điều chỉnh. Chỉ thuê chuyên gia kĩ thuật nước ngoài 500 nhân công Trung Quốc đã vào dự án Tân Rai Phải nói rõ hiện chỉ có 2 nhà máy. Các nhà máy khác phải chờ có đường sắt. Không thể cùng lúc làm 6 nhà máy được. Hai nhà máy theo kế hoạch ban đầu là vận chuyển bằng đường ống, còn các dự án khác phải có đường sắt và phải chuẩn bị làm đường sắt Tây Nguyên. Về công nhân, lúc đông nhất trên công trường là khoảng hơn 2.000 người, cả của nhà thầu nước ngoài lẫn nhà thầu trong nước, trong vòng 2 năm. - Người nước ngoài làm việc cho các dự án thì sao, thưa ông? Khi vận hành nhà máy thì không có người nước ngoài. Có người nước ngoài là trong quá trình xây dựng của nhà thầu. Theo pháp luật, họ được vào. Chủ trương của TKV là: nếu có thuê thì chúng tôi thuê chuyên gia, còn tất cả là người Việt Nam. Người địa phương không đủ nguồn lực thì chúng tôi sẽ chuyển từ nơi khác đến nữa. Đội ngũ nòng cốt là từ Quảng Ninh vào. Bây giờ chúng tôi đang đào tạo đội ngũ con em địa phương. Chúng tôi ý thức sâu sắc chuyện này chứ! Đúng là có chuyện đó. Trong đó, đã phát hiện một số trường hợp dùng visa du lịch. Chúng tôi đã kịp thời phát hiện và yêu cầu nhà thầu làm nghiêm. Bên nhà thầu phải tôn trọng luật pháp của Việt Nam. Về việc có lao động phổ thông, TKV chủ trương chỉ thuê chuyên gia kĩ thuật nước ngoài. Lao động phổ thông phải dùng nhân công trong nước. Tuy nhiên, thực tế, có những việc thuê lao động Việt Nam nhưng không làm được, buộc nhà thầu phải đưa lao động Trung Quốc sang. Ví dụ, để đào giếng sâu bề rộng 1 mét, ở độ sâu 30 mét, người Việt không làm được, đã phải điều lao động từ Trung Quốc sang. Hiện Tân Rai có 300 công nhân Trung Quốc và 200 công nhân Việt Nam lo việc đó.
|