Khai thác Bauxite Tây Nguyên: "Căn bệnh Hà Lan" hay là "lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên"
Posted On Saturday, May 16, 2009 at at 5:20 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Phạm Minh Ngọc
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (Hồ Chí Minh)
Từ khá lâu rồi, chính xác là từ những năm 60 của thế kỉ trước các nhà khoa học đã nhận thấy hậu quả nghiêm trọng về chính trị và kinh tế mà các nước giàu tài nguyên thiên nhiên có thể gặp. Họ gọi đấy là “căn bệnh Hà Lan” hay là “lời nguyền rủa của tài nguyên” để mô tả quá trình suy sụp của ngành công nghiệp, hậu quả của những khoản thu nhập to lớn bất thình lình đổ về từ việc xuất khẩu nguyên liệu, nhiên liệu thô, tức là xuất khẩu những nguồn tài nguyên không thể tái sinh được. Thomas L. Friedman viết: “Tại những nước bị “bệnh Hà Lan” đồng nội tệ tự nhiên tăng giá đột ngột vì nguồn ngoại tệ chảy vào từ việc bán dầu hoả, vàng, khí đốt, kim cương hay các nguồn nguyên liệu khác. Kết quả là: hàng công nghiệp xuất khẩu không còn khả năng cạnh tranh còn hàng nhập khẩu thì xuống giá trông thấy. Người dân rủng rỉnh tiền trong túi, bắt đầu đổ xô đi mua hàng nhập khẩu, nền công nghiệp trong nước chết yếu - đấy chính là quá trình suy sụp của nền công nghiệp. Thuật ngữ “lời nguyền rủa của tài nguyên” cũng ám chỉ quá trình này, cũng nói về sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến đời sống chính trị của đất nước, ảnh hưởng đến những ưu tiên về đầu tư và ưu tiên trong lĩnh vực giáo dục. Vấn đề lúc đó sẽ là: Ai có quyền vặn “van dầu” và ai được chia bao nhiêu phần của cái bánh chứ không phải là làm thế nào bảo đảm được khả năng cạnh tranh hữu hiệu, sáng kiến và sản xuất ra hàng hoá thực cho nhu cầu tiêu dùng thực nữa”.
Hơn thế nữa, Michael L. Ross, nhà chính trị học của đại học California (Los Angeles), sau khi nghiên cứu số liệu thống kê của 113 nước trong giai đoạn từ 1971 đến 1997, đã rút ra kết luận: “Nói chung, quá chú ý đến việc xuất khẩu dầu mỏ và các khoáng sản khác là một trở ngại đối với tiến trình dân chủ hoá đất nước nhưng việc xuất khẩu các hàng hoá khác lại không có hiệu ứng như thế; hiện tượng này được tìm thấy không chỉ ở bán đảo Arab, Trung Đông và phía Nam sa mạc Sahara mà còn xảy ra ở cả các nước nhỏ nữa”.
Đấy chính là qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ do Thomas L. Friedman nêu ra: “Mức độ tự do của các quốc gia dầu mỏ tỉ lệ nghịch với giá dầu. Theo qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ thì giá dầu trung bình thế giới càng cao, tự do ngôn luận, tự do báo chí, các thiết chế về bầu cử tự do và trung thực, tinh thần thượng tôn pháp luật, sự độc lập của toà án và các đảng phái chính trị càng mờ nhạt”.
Nhưng thế chưa phải là hết, bằng vào kinh nghiệm của nước Nga, Yury Afanasiev, nhà sử học lỗi lạc, người sáng lập Trường đại học nhân văn quốc gia Nga, còn viết: “Một khi nhà nước tập trung chú ý vào nguyên liệu thô chứ không phải vào sản phẩm thì nó cũng không cần đến dân chúng nữa. Nếu đất nước có ‘đường ống dẫn’ và ‘vàng đen’ thì dân chúng trở thành gánh nặng và mối đe doạ tiềm tàng. Chế độ cho rằng lúc nào nó cũng có thể mua chuộc được dân chúng. Nó không có nhu cầu thiết lập mối quan hệ với dân chúng thông qua các định chế thông thường của một xã hội dân chủ phát triển cao”.
Tức là, khác hẳn với những nước biết mình nghèo, biết mình không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, muốn phát triển thì phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ở những nước đó, nước muốn mạnh thì dân phải giàu. Còn chính phủ của các nước giàu tài nguyên thiên nhiên thì không cần như thế, chỉ cần bán tài nguyên thiên nhiên là họ có đủ tiền để bảo đảm nuôi sống bộ máy quan liêu của mình và tiếp tục giữ mãi nhân dân trong cảnh sống phi dân chủ, nhẫn nhục và tăm tối. Đấy chính là lời nguyền rủa cay độc nhất của tài nguyên thiên nhiên. Chẳng cần phải là người thông thái cũng có thể nhận ra chuyện đó. Chỉ cần nhìn vào những nước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan, một bên và bên kia là những nước kia như Iran, Iraq thì sẽ rõ.
Đấy là những câu chuyện ở xa và đã có từ lâu. Còn đây là câu chuyện gần và mới, ông Thứ trưởng Lê Dương Quang, trong một buổi trả lời phỏng vấn đối với phóng viên của Cổng Chính phủ online, ông cho rằng chúng ta (Việt Nam) phải tìm mọi cách khai thác hết tiềm năng bauxite ở Tây Nguyên. Ngoài ra, trong khi tiếp xúc với cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (09/05/2009), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Tài nguyên nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bauxite lớn thứ ba thế giới, riêng ở Tây Nguyên trên 5 tỷ tấn và sẽ “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bauxite trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước”. Lời của ông Thứ trưởng và tái khẳng định của ông Thủ tướng, cũng là lời của một người sang, tức là lời ‘có gang có thép’, nhất định phải trở thành hiện thực. Và như thế, “căn bệnh Hà Lan” hay “lời nguyền rủa của tài nguyên” có lẽ sẽ trở thành sự thật nhãn tiền trên đất nước này.
Nhưng lần này “lời nguyền” còn cay độc hơn bội phần, bởi vì khai thác dầu khí hay vàng không tạo ra hàng triệu tấn bùn đỏ nguy hại, không tạo ra nguy cơ ô nhiễm những nguồn nước cung cấp cho hàng triệu người dân sống phía dưới hạ lưu, không đe doạ huỷ diệt môi trường văn hoá và môi trường sống của hàng triệu cư dân bản địa. Và nhất là không diễn ra ở những vùng chiến lược xung yếu của quốc gia… Thiết nghĩ kể thêm nữa cũng bằng thừa, các nhà khoa học cùng với những người hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và quân sự đã nói quá đủ rồi.
La Thành đã viết rất đúng rằng: “Bauxite Tây Nguyên hoàn toàn có thể là điểm khởi đầu cho một sự tan rã, không chỉ ở mức thể chế chính trị mà ở tầm quốc gia - dân tộc”. Chỉ xin được bổ sung thêm: Nếu hồn thiêng sông núi cùng với thể phách của các bậc tiền nhân và những lời can gián trung thực, đấy khí phách và kiến thức của những người đang sống không buộc được những kẻ tham lam và ngu xuẩn phải ngừng ngay dự định bán tống bán tháo tài nguyên quốc gia, không bảo vệ được vùng Tây Nguyên xanh, một trong những tài sản quí giá nhất mà cha ông đã để lại cho chúng ta thì quá trình Somali-hoá cái đất nước có hình chữ S tươi đẹp này là việc hoàn toàn có thể xảy ra. Đấy chính là lời nguyền rủa tối hậu đối với tất cả chúng ta. Vì đấy là “lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên”.
Thoáng nhớ lại đâu đó câu thành ngữ " Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt"!
ĐN Mạng Bauxite hiệu đính
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090516_loinguyentaynguyen.htm
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản)
Posted On Friday, May 15, 2009 at at 10:45 PM by Bô-xít Tây Nguyên
1. Tai sao ong phan doi du an khai thac bo-xit tai Tay Nguyen?
Không phải chỉ riêng tôi mà bất kỳ người Việt có lương tri nào cũng phản đối, vì đây là một dự án chưa thấy đem lại lợi ích gì cho đất nước mà nguy cơ tàn phá môi trường, tiêu diệt hệ sinh thái phong phú, và để lại những hậu quả nghiêm trọng về nguồn nước độc hại cho không chỉ riêng Tây Nguyên mà cả một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam Việt Nam, và không phải chỉ trong dăm mười năm mà trong ba bốn mươi năm hoặc lâu hơn thế, thì đã rành rành ra đấy. Đáng nói hơn nữa là nó đảo lộn đời sống của đồng bào người Thượng, thêm nhiều tập quán văn hóa lâu đời của nhiều tộc người Tây Nguyên rồi sẽ bị xóa bỏ. Sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu người các dân tộc ở đây không còn không gian truyền thống để sinh hoạt và không còn duy trì được bản sắc văn hóa của mình? Anh tôi, nhà dân tộc học Từ Chi trước đây gần 20 năm đã cảnh báo việc đưa người Kinh lên thâm nhập Tây Nguyên, sẽ làm biến chất cái làng cổ truyền Tây Nguyên qua việc “tập thể hóa” đất đai du canh của họ, đẩy người bản địa vào tận chân núi, lại “soán” luôn Ông “Giàng” (Yang) mà họ thờ phụng hàng bao nhiêu đời, thay vào đấy bằng một thứ chủ nghĩa vô thần cực đoan kỳ cục mà đến bây giờ người Kinh, ngay cả những vị quan chức cấp tối cao, tôi mạnh dạn mà nói thế, cũng không sao “đeo đẳng” mãi được nữa! Một tình trạng đến thế mà còn kéo dài thì nhất định trước sau sẽ xảy ra “sự cố”. Rất tiếc, điều anh tôi cảnh báo đã bị các nhà chính trị bỏ ngoài tai và như ta thấy, cách đây một số năm đã được chứng thực tại Tây Nguyên. Nay, người ta lại đang làm một chuyện tàn phá mới đối với Tây Nguyên mà vẫn tuyệt nhiên không chịu rút ra bài học không xa, có gốc gác là sự thiếu hiểu biết và thiếu thật lòng tôn trọng văn hóa Tây Nguyên. Họ chỉ biết có cái lợi thiển cận mà cái lợi ấy cũng rất mơ hồ, và nếu dùng công thức 50/50 như lời ông Đoàn Văn Kiển Tập đoàn Than khoáng sản thì còn là vô trách nhiệm! Đem đất nước và dân tộc ra mà thử nghiệm mà về kinh tế chỉ có thể trông mong hòa trong khi về tất cả các mặt khác lại không hòa mà thua trắng, chỉ có đám “đỏ đen” chứ có ai trung thực và yêu nước mà lại chịu đựng nổi lối tư duy cờ bạc đó? Cái hậu họa dứt khoát sẽ đến ngay nhãn tiền. Vì nghĩ thế, tôi và một số anh em tâm huyết đã phản đối dự án này.
2. Mot so nguoi cho rang su hien dien cua TQ tai Tay Nguyen chinh la nguyen nhan de ho phan doi du an nay. Theo y kien ca nhan ong, tai sao ho lai coi do la mot su de doa?
Câu hỏi này không rõ. “Họ” mà quý báo nói đây là ai? Nếu là đại đa số nhân dân Việt Nam thì xin quý báo điều tra thêm trong thực tiễn. Còn nếu là những người trí thức và công dân ký tên trong “Kiến nghị” thì nội dung “Kiến nghị” đã nói cụ thể; chúng tôi lo ngại ở 4 điểm:
1. Việc lập dự án khai thác bauxite mới được công khai hóa từ cuối năm 2008 nhưng trên thực tế lại đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó mà chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Nghĩa là đối với chúng tôi, việc ký với ai cũng là quan trọng nhưng còn không kém quan trọng là nó có được tiến hành hợp pháp hay không. Tại sao lại có chuyện như vậy ở một đất nước từ lâu đã có Hiến pháp và gần đây còn ban hành hàng loạt bộ luật được Quốc hội thông qua? Đó là điều không thể lý giải. Một việc làm không hợp pháp được nhắm mắt làm ngơ thì bao nhiêu việc nữa sẽ khiến cho việc điều hành đất nước này trở nên lộn xộn, không minh bạch, xa lạ với quỹ đạo phát triển như mọi nước đã và đang đi[1] (Mới đây, ngày 4-5-2009, trả lời đông đảo cử tri Hà Nội yêu cầu đưa vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội phê chuẩn và giám sát “như ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có nói: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Ông còn nói thêm: “Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu” (xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/845582/). Trong khi đó thì mạng truyền thông Trung Quốc lại xác nhận các công ty của họ đã đổ vào Tây Nguyên những khoản tiền hết sức lớn, và họ đã bắt đầu thi công từng phần của dự án chứ không phải là “chưa ra đâu vào đâu” như ông Trọng nói (xem: http://www.youyiguan.com/bbs/viewthread.php?tid=20527). Mặt khác, tuy chia ra từng dự án thì quy mô ở Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ thật nhưng xét tổng thể cả quy hoạch bauxite Tây Nguyên hẳn phải nói là rất lớn! Báo “Du lịch” ngày 13-4-2009 đăng bài của một phóng viên lên điều tra tận nơi cho biết: “Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”. Cớ sao ta không trình Quốc hội trên Dự án tổng thể khai thác bauxite ở toàn vùng Tây Nguyên mà lại chia nhỏ ra từng dự án con để phán xét quy mô của mỗi cái là nhỏ? Hơn nữa, trong 5 tiêu chí của một dự án “cần phải đưa trình Quốc hội xét duyệt” theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29-6-2006 thì có tiêu chí thứ 4 ghi rõ “Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh”; Tây Nguyên ai cũng đều biết là “mái nhà Đông Dương” mà không đáng xếp vào tiêu chí thứ 4 sao? Hãy nghe Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: “Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (Cao nguyên) Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” (trích “Thư gửi BCT ĐCSVN và TT CPVN”). Cũng chính Kết luận số 245-TB/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN do Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang thông báo ngày 24-4-2009 có nói rõ: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Kết luận ấy chứng tỏ Bộ Chính trị biết vị thế Tây Nguyên trọng yếu như thế nào.
Tôi không phải là người có thói quen thích theo dõi nhân sự của một đảng cầm quyền, cũng không thích nghe lời bàn tán xầm xì của dư luận, chỉ biết làm chuyên môn và tôn trọng những ai là đại diện cho quyền lực của đất nước, nhưng trước việc này cũng không khỏi băn khoăn: hình như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chính là một Ủy viên trong Bộ Chính trị Đảng CS thì phải. Sao ông lại trả lời cử tri của mình lạ vậy? Người ta có cảm tưởng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đang… cãi lại Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, hay cũng có thể luận giải theo một hướng khác, rằng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng muốn “giải thích lại” thực chất ý nghĩ của Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng. Mong sao đó đều là những cảm giác nhầm lẫn (Được biết thêm chiều hôm qua, 14-4-2009, trong lời kết luận phiên họp của UBTVQH, ông Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu Quốc hội”. Có thế chứ. Xin ghi nhận chuyển biến đó và hãy cứ chờ đợi, lắng nghe ý kiến của các vị. Tuy nhiên, nếu Quốc hội chỉ nghe mà không thảo luận và biểu quyết thì thưa ông Trọng, đó chẳng phải là điều người dân mong đợi).
Còn ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì phải nói là càng lạ nữa. Trong buổi sáng 7-5-2009 đến thăm sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trước lời khuyên thẳng thắn của Đại tướng về việc nên dừng dự án bauxite, ông nói gọn ghẽ: “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”, các báo mừng rỡ loan tin, vậy mà cách một hôm sau, tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông lại đã dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn!? Ô hay, chỉ mới qua một ngày một đêm thôi, mà cả một Chính phủ chứ có phải cá nhân ông đâu, đã “tiếp thu và nghiên cứu” xong ý kiến của vị Đại tướng nhanh thế a? Thế thì con ông và cháu ông sẽ hiểu vấn đề đạo lý và lễ nghĩa trong xã hội Việt Nam là gì? Chuyện giáo dục bằng “gương người lớn” mà không quan trọng ư? Ông có nhớ câu chuyện cổ tích về một người bố cho ông nội ăn cơm trong gáo dừa thay bát cho khỏi vỡ, vì ông nội tay đã run, và đứa con nhìn thấy liền học theo, cũng chuẩn bị sẵn hai cái gáo dừa mẻ để dành về sau cho bố mẹ, hay không? Đó là chưa nói ông đang là “tấm gương” cho cả nước nhìn vào kia mà!
2. Ai cũng biết Trung Quốc rất cần nhôm để chạy đua trong ngành tên lửa và hàng không vũ trụ, để thực hiện những tham vọng không sao dò lường hết của họ. Từ lâu họ đã ký hợp đồng khai thác thứ quặng này ở nhiều nước và xúc tiến khai thác quy mô ngay cả trên đất nước họ. Khốn nỗi công nghệ của họ chưa đạt độ an toàn môi sinh cao, lại do những nhà thầu tư nhân thậm chí là những cai đầu dài vô học di cư bất hợp pháp chạy đua khai thác, đã gây ra những tai họa khủng khiếp ở lục địa Đen khiến cả thế giới đều lo lắng, và họ cũng đã phải đóng cửa rất nhiều mỏ quặng bauxite ở ngay trên đất nước họ[2 ] (Theo GS Nguyễn Ngọc Trân trong bài “Khai thác bauxite Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị” công bố ngày 8-4-2009 thì “Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn” (Xem: http://www.tuanvietnam.net/news/InTin.aspx?alias=thongtindachieu&msgid=6620). Cũng xin xem Dương Danh Dy: “Tìm hiểu tình trạng ô nhiễm môi trường klhi khai thác bauxit tại một vài nơi ở Trung quốc” (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/081128_timhieuonhiemotq.htm)). Thế thì làm sao mà tin họ được chứ! Thế mà lại ký hiệp ước mời họ đến khai thác bauxite trên đất nước mình, có phải là đã chuyển gánh nặng ô nhiễm tại đất nước Trung Hoa mênh mông sang mảnh đất Việt Nam bé nhỏ, để 84 triệu nhân dân Việt Nam gánh chịu thay cho 1 tỷ 3 dân của họ hay không? Sao lại có chuyện lạ đời đến thế? Ai, người Trung Hoa hay người Việt, đã tính chuyện lạ đời như thế?
3. Giới chuyên môn thừa biết đặc điểm quặng bauxite ở Việt Nam đòi hỏi một kỹ thuật khai thác khác với khai thác quặng bauxite ở Trung Quốc[3] (Xem thêm bài “Vấn đề công nghệ và môi trường trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên” của GS TS Nguyễn Thanh Sơn trên báo “Tia sáng” ngày 4-5-2009 (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2825&CategoryID=3). Thế mà ta lại du nhập công nghệ khai thác bauxite Trung Quốc vào Việt Nam kể cả du nhập nhà máy của họ. Lấy gì bảo đảm rằng những công nghệ khai thác ấy thích hợp với yêu cầu kỹ thuật khai thác bauxite của chúng ta, bớt tốn kém và đưa lại hiệu quả? Những gì người Trung Quốc đã làm ở châu Phi, nơi mà ngay cả ở nhiều mỏ đồng họ cũng phải cuốn xéo, chẳng là bài học đáng học hay sao? Tại sao cứ phải “cố đấm ăn xôi” (mà đã chắc đâu có xôi để ăn) như vậy?
4. Việc đưa công nhân Trung Quốc vào Tây Nguyên cũng là cả một vấn nạn khiến chúng tôi lo lắng. Tuy thông báo 245-TB/TW của BCT Đảng Cộng sản vừa rồi có nói “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”, và có chỉ thị về việc “sử dụng người lao động địa phương”, điều này có làm yên lòng chúng tôi ít nhiều, nhưng báo chí của Việt Nam trước đấy đều cho biết kể từ cuối năm 2008, các Công ty Trung Quốc đã đưa công nhân vào làm việc ở Tân Rai – và đưa vào nhiều rồi. Thế nghĩa là ông chủ có thể “chưa sẵn sàng dọn cỗ” nhưng đã có các loại “bất tốc chi khách” – khách không mời mà đến. Lạ lùng hơn nữa là những người ngoại quốc này còn làm việc một cách bất hợp pháp tại Việt Nam vì nhiều người trong số đó đến nước chúng tôi bằng visa du lịch chứ không phải visa làm việc – họ đâu được phép chuyển đổi từ “khách du lịch” sang “công nhân khai mỏ”?! Đối phó với các loại “khách” này sẽ ra sao, trong khi người Việt còn thất nghiệp và đi nhiều nước kiếm việc làm? Phải chăng là mình đã tự làm khó cho mình (nên nhớ xét về tỷ lệ, mật độ dân số ở Việt Nam hiện đã gấp đôi Trung Quốc)?
3. Xin duoc hoi ong voi nguoi Viet thi TQ co y nghia nhu the nao (ke thu cu, ke thu tiem an, doi thu hay nguoi anh lon)?
Chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc là bạn như mọi dân tộc khác ở gần cũng như ở xa Việt Nam. Chúng tôi nghĩ, nhân dân Việt Nam cần học hỏi mọi đức tính tốt đẹp của nhân dân Trung Quốc và củng cố mối quan hệ láng giềng giữa hai nước thật tốt. Đó là điều kiện để cả hai dân tộc cùng phát triển trong hòa bình, trong xu thế của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng giai cấp thống trị Trung Hoa đủ các mầu sắc từ sắc vàng các triều đại xưa đến sắc đỏ triều đại nay thì luôn luôn có dã tâm bành trướng, không phải chỉ bành trướng sang Việt Nam mà còn sang nhiều nước láng giềng, chuyện này lịch sử đã và vẫn đang còn ghi chép. Chỉ hai sự kiện này là đủ để hiểu “tim đen” của các “đồng chí Trung Quốc”: năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Hoàng Sa, chính quyền miền Nam Việt Nam chưa tiếp quản kịp, Trung Quốc liền tức tốc cho quân ra chiếm; năm 1974, biết tình thế nguy cấp của chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc cũng tức tốc thực hiện chiến thuật cũ, chiếm trọn cả quần đảo Hoàng Sa. Đó là thời của vũ lực. Nay đã sang thời kỳ mới, xâm lăng bằng kinh tế và văn hóa, tiêu diệt bà con láng giềng bằng gây ô nhiễm… Bởi thế, trong huyết quản con người Việt Nam vẫn sẵn có ý thức cảnh giác với mọi nguy cơ và phương thức xâm lược, và luôn luôn tự củng cố nội lực bằng tinh thần đoàn kết rộng rãi, điều ấy là dễ hiểu[4] (Mới đây thôi giới blogger Việt Nam mới phát hiện một vụ việc có thể nói là tày trời: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa để đưa tin về việc hợp tác kinh tế việt-Trung. Ngày khai trương có mặt cả 3 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai bên là đồng chí Hồ, đồng chí Nông và đồng chí Nguyễn, cùng kích hoạt cho trang mạng đi vào hoạt động. Nhưng hỡi ôi, chỉ sau ít lâu thì mới biết, nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam. Hỏi đến những người chủ trì trang mạng ở Bộ Công thương thì họ đành lắc đầu, không có cách gì để xóa, bởi một lẽ giản đơn là máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Trang mạng “Bauixite Việt Nam” đã loan báo kịp thời trong bài “Giao trứng cho ác”, có hình ảnh cả ba đồng chí lãnh đạo tươi cười đứng sát bên nhau trong ngày khởi động cái phương tiện truyền thông gây tai vạ chết người cho dân tộc chúng ta (xin xem: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2fjjj.onhkvgrivrganz.vasb/lxvra/090513_tvnbgehatpubnp.ugz); còn “Blog Lê Tuấn Huy” thì nêu vấn đề hình như đã chạm tới bản chất: “Đồng tiền và chủ quyền” (http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA–?cq=1&p=895); và “Blog Osin” gọi đó là “Giao trứng cho Trung Quốc” (http://www.blogosin.org/?p=898). Thử hỏi, với những chuyện chơi khăm kiểu đó, các “đồng chí Trung Quốc” thực hiên “16 chữ vàng” với Đảng Việt Nam có thật là “lòng vàng” hay không, hay là chỉ “lòng vàng” với Đảng mà “dạ tối thui” với đất nước và nhân dân này? Ngoài ra, dù gì đi nữa, dù vô tình hay cố ý, ngây thơ hay dại dột, thì vẫn cứ nhất thiết phải truy cứu: người nào ở cấp nào đã bị kẻ khác “làm xiếc” và người nào ở cấp nào là Lê Chiêu Thống trong trường hợp giao truyền thông cho Trung Quốc “nắm gáy” nói trên?).
4. Cac ong dang kien nghi gi tu phia chinh phu?
“Kiến nghị” đề ngày 12 tháng Tư năm 2009 của chúng tôi yêu cầu Chính phủ hãy dừng toàn bộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, có tổ chức giám sát chặt chẽ, và đưa dự án khai thác đó ra thông qua Quốc hội để Quốc hội xem xét thấu đáo tính chất tiền khả thi của nó, sau đó phê chuẩn hoặc bác bỏ là toàn quyền của Quốc hội. Nhưng cũng trong “Kiến nghị”, chúng tôi lại cũng khẩn thiết kêu gọi Quốc hội hãy “thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó” để Quốc hội có quyết định hợp lý hợp tình.
5. Cac ong keu goi moi nguoi tham gia hoat dong cua minh bang cach nao?
Thực ra chúng tôi không kêu gọi mọi người tham gia ký vào “Kiến nghị” mà lúc đầu chỉ gửi e-mail đến 15 người bạn nhờ góp ý tư vấn cho mình. Không ngờ đây vốn là một mối quan ngại đã nung nấu sẵn trong tâm can nhiều người chỉ chờ dịp là bùng phát, nên “Kiến nghị” được nhiệt liệt hưởng ứng, người này truyền cho người kia, rốt cuộc đến chiều ngày 16 (sau 4 ngày) thì đã có 133 người ghi tên vào danh sách, trong đó có rất nhiều nhà khoa học hàng đầu, văn nghệ sĩ tiêu biểu ở trong nước cũng như ngoài nước. Và cho đến nay con số đã trên 1.000 người. Tuy nhiên, quan điểm nhất quán trước sau của chúng tôi là muốn cho Nhà nước thấy sự thành tâm của mình, đây không phải là một việc gì khuất tất, nên những ai muốn ghi tên phải có đủ thông tin về nhân thân và về địa chỉ cư trú cụ thể. Vì thế, trong danh sách gửi lên cũng chỉ mới chọn lọc được 400 người và sắp tới sẽ có thêm 200 người nữa; những người còn lại phải bổ sung một số thông tin còn thiếu thì mới được gửi tiếp[5] (Hiện nay, Danh sách đợt 3 đến con số 600 đã công bố, chúng tôi sắp công bố Danh sách đợt 4 để gửi lên Nhà nước, đến hơn 1.000 người. Tiến độ có chậm trễ so với lượng người đăng ký (quá chậm trễ là khác) vì chúng tôi đều làm việc “tay trái”).
6. Theo du kien se co mot cuoc tu hop, trong hoa binh, vao ngay 23/4 de bay to su phan doi doi voi viec tien hanh du an. Xin duoc hoi ly do gi da khien cho cuoc tu hop ay khong dien ra?
Chúng tôi không biết đó là dự kiến của ai, riêng chúng tôi không hề đề xuất dự kiến này.
8. Xin cho biet ke hoach trong tuong lai cua cac ong la gi?
Việc lưu truyền bản “Kiến nghị” trên các trang mạng kể từ ngày 12-4-2009 làm cho ba người soạn thảo chúng tôi liên tiếp nhận được một số lượng e-mail hưởng ứng không sao trả lời xuể. Vì thế, đến ngày 22-4-2009 thì chúng tôi đành phải lập một Blog “Bauxite Việt Nam” (http://vn.myblog.yahoo.com/huechivn2009) để tiếp nhận thông tin từ khắp bốn phương. Nhưng rồi số lượng người truy cập cũng nhiều đến mức quá tải, đến ngày 28-4-2009 đã có hơn 41 vạn lượt người vào xem. Thế là đến ngày 27 tháng Tư năm 2009 chúng tôi lại phải chuyển đổi từ blog sang Website “Bauxite Việt Nam” (http://www.bauxitevietnam.info) do một số anh em tâm huyết đứng ra điều hành. Đến nay mới chỉ qua một ngày mà đã có hơn 36.000 lượt người truy cập[6] (Tính đến chiều 14-5-2009 đã có trên 40 vạn lượt người vào xem trang mạng của chúng tôi. Sở dĩ nói một cách phỏng đoán thế thôi vì tự nhiên trang mạng bauxitevietnam.info đang yên lành bỗng gặp “trục trặc”, vào mạng vẫn được, song upload thì không được nữa, và số lượng người truy cập hiển thị trên trang web cũng bị xóa. Ai mà lo ngại ảnh hưởng của trang mạng vốn tuân thủ nghiêm chỉnh phép nước của chúng tôi thế nhỉ? Chắc đây phải là “kẻ địch”, “mưu toan phá hoại đất nước”, nói như Thông cáo báo chí ngày 28-4-2009 của Bộ Công thương).
9. Cung co cac quoc gia khac nhu My dang can nhac khai thac khoang san tai VN. Cac ong co phan doi nguoi My toi VN ko? Neu khong, tai sao ong lai Kien nghi nhu vay?
Chúng tôi không hề phản đối người Mỹ tới Việt Nam đặt quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trái lại, việc củng cố mối quan hệ Việt-Mỹ giúp cho Việt Nam phát triển là một yêu cầu tối cần thiết. Nhưng nếu người Mỹ đến chỉ để khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì mọi vấn đề đang đặt ra về môi sinh, về văn hóa, về lợi nhuận… vẫn như thế, có khác gì đâu. Chúng tôi không kỳ thị các công ty Trung Quốc, mặc dù công nghệ Trung Quốc chắc chắn là kém xa Mỹ – và đã từng để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho đất nước chúng tôi như các nhà máy mía đường Trung Quốc mà Nhà nước chúng tôi từng nhập về cách đây hàng chục năm làm cho ngành mía đường Việt Nam thua lỗ chỏng gọng vì dây chuyền công nghệ cũ mèm. Người nhập kiếm được một món béo bở, tất nhiên, còn dân chúng phải è cổ ra gánh chịu mọi hậu quả, ai mà chả thấy[7] (Ngay chính một trang mạng của Trung Quốc 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 3984582, trong bài “Cuộc cạnh tranh bô-xít Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ” cũng thừa nhận chính sách đưa các dây chuyền công nghệ đã bỏ đi cũng như các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc vào đầu tư tại Nam Trung Bộ Việt Nam từ lâu đã gây ra ô nhiễm tệ hại và làm cho người Việt Nam thêm nghi ngại Trung Quốc, “Nếu không phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt… chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố”). Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là phải bảo vệ sự an bình của Tây Nguyên bằng mọi giá, hơn nữa cũng phải bớt dần đi cái lối làm kinh tế theo kiểu cứ moi khoáng sản lên để bán. Cái đó là một biện pháp “bóc ngắn cắn dài” chỉ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế các nước hiện đại.
10. Theo ong thi cac cty VN ky hdong voi cong ty cua TQ khi nao vay?
Việc này không có báo chí nào đưa, có lẽ cũng là điều cấm kỵ sao đó nên tôi không thể trả lời quý báo chính xác được. Trên ba số báo mạng Vietnamnet bằng tiếng Anh ra các ngày 23-09-2004, 14-10-2005 và 02-11-2005 có nhắc rằng dự án ký kết đã được duyệt, số tiền là bao nhiêu bao nhiêu, nhưng lại không hề ghi rõ ngày tháng hai bên đặt bút ký. Có lẽ “lề đường bên phải” phải dùng đến loại giày riêng, buộc báo chí phải “gọt” hết những con số thòi ra như vậy cho “vừa giày”. Chỉ biết đến nay, theo trang mạng BBC, Công ty Chinalco đã đưa người vào khai thác ở Tây Nguyên rồi[8] (Trong “Thư ngỏ” số 2 gửi lên các vị đứng đầu cơ quan quyền lực Nhà nước ngày 7-5-2009, chúng tôi đã tra tìm được các “bản ghi nhớ” ký với nhau giữa các công ty TQ và Việt Nam từ 2001 đến 2007; như vậy, câu trả lời này đã được bổ sung cụ thể và rõ ràng).
11. Cho toi thoi diem hien tai, theo ong duoc biet, da co bao nhieu cong nhan TQ dang lam viec o cong truong?
Đây cũng là một “bí mật nhà nước” mà báo chí không được phép để lộ. Trên Vietnamnet ngày 14-4-2009 có nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây, chứ không nói rõ số lượng bao nhiêu. Tất nhiên 20 dãy nhà kia chỉ là nhà cho công nhân làm việc cơ bắp chứ chuyên gia kỹ sư Trung Quốc thì đều ở các ngôi nhà ngoài thị trấn. Tuy vậy cũng trong bài báo ấy lại có để lộ rằng: theo lời một chủ quán ăn là Phượng thì số lượng công nhân Trung Quốc ở khu mỏ vào khoảng 800 người. Còn theo trang mạng “Sài Gòn tiếp thị” ngày 15-4-2009 thì những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đã đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cần chú ý thêm là cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít; quá ít người dân địa phương được nhận vào làm. Riêng ở Đắc Nông, tức ở khu mỏ bauxite Nhân Cơ, nơi hiện đang xúc tiến mạnh việc xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, thì theo báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây (trích lời ông Bùi Quang Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV), nhưng sau đó, ông Ngô Tố Ninh, lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV lại đã cải chính rằng con số nêu trên là chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (Vietnamnet ngày 26-4-2009). Chỉ chừng đó cũng đủ thấy một chuyện không có gì ghê gớm cả mà đối với thông tin truyền thông Việt Nam vẫn là cả một trò… “ú tim”. Trong khi ở Tân Rai người ta không nhận công nhân người Việt thì liệu 3.000 công nhân tại Nhà máy alumin Nhân cơ do Tập đoàn Chalco cai quản có được bao nhiêu người Việt? Muốn điều tra cho rõ điều này chắc phải có một đội ngũ các nhà xã hội học chịu khó xin phép đến Nhân Cơ hỏi chuyện từng người bằng tiếng Hoa, tiếng Việt, hoặc bằng tiếng của người dân tộc bản địa rồi cứ thế làm một phép cộng tỉ mỉ mới biết đích thực có bao nhiêu trong số 3.000 công nhân kia là người Việt Nam[9] (Không phải chỉ ở Tây Nguyên, rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, công nhân Trung Quốc đã sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, công trường đông đặc. Xin xem bài “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” của Cầm Văn Kình và Đăng Nam trên báo “Tuổi trẻ” ngày 16-4-2009 và trên trang mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=311388; và các bài: “Người Quảng Tây ở Quảng Nam” trên báo “Sài Gòn tiếp thị” 5-5-2009 (http://www.sgtt.com.vn/Detail29.aspx?ColumnId=29&newsid=50976&fld=HTMG/2009/0505/50976); “Thợ Việt - Trung đón tết trên công trường thủy điện” trên báo “Quảng Nam” ngày 19-1-2009 (http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=16125&Itemid=202)).
Nguồn: http://www.talawas.org/?p=4424
Lo ngại về hiệu quả tài chính của các dự án bauxite
Posted On Thursday, May 14, 2009 at at 7:40 PM by Bô-xít Tây Nguyên
| | ||||
| |
| |||
Sốc với mấy ông thần TKV
Posted On at at 1:15 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Thời gian gần đây, báo chí đua nhau giật tít “sốc với abc” – với abc thường là ảnh khỏa thân của ngôi sao nào đó. Ừ thì cũng ghê thật đấy, nhưng làm gì đến nỗi “sốc”. Mấy cô gái trẻ thừa tiền thiếu chữ hám danh lợi thì thiếu gì trò tiêu khiển sa đọa. Dăm bữa nửa tháng các cô ấy lại để lọt ra một vài tấm ảnh thì việc gì phải bù lu bù loa lên.
Trong khi đó, chuyện tày trời ở sát nách mình thì chẳng thấy báo nào chịu “sốc” – quan chức tập đàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới tuyên bố: “Làm bô-xít hiệu quả hay không, chờ thực tế mới biết”! Ố là la!
Lời tuyên bố này được tờ Tuần Việt Nam – một tờ báo thuộc hàng “cứng đầu cứng cổ”, thích “đi trên lề trái” đây – đăng tải hôm qua, 13 tháng Tư năm 2009.
Cụ thể, ông chủ tịch TKV nói:
Lỗ hay lãi bây giờ chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.
Đúng là chỉ có ở Việt Nam. Một loạt các nhà khoa học lên tiếng nhưng chỉnh phủ vẫn bỏ ngoài tai và để cho ông thần này tuyên bố khoa học và thực tế “là 50:50″ – tôi chịu không hiểu nổi cái 50:50 của ông là ý nói gì. Cơ sở hóa học, kinh tế học, xã hội học, địa-chính trị học lù lù ra đấy rồi mà ông bảo ngang bằng với đống hồ sơ mờ mờ ảo ảo của TKV ư?
Trước khi đi đến kết luận đó, ông TKV này còn nói:
Lịch sử phát triển công nghiệp của Việt Nam cho thấy, nhiều dự án được cho là không hiệu quả, các nhà đầu tư tính toán vẫn thấy lãi, Chính phủ đồng ý làm và đến nay nó đã chứng minh hiệu quả.
Nhưng ông không chỉ ra được ví dụ cụ thể. Và ông cũng không dám đảm bảo đã tính chi phí hoàn nguyên môi trường, đền bù thiệt hại vào cái gọi là lợi nhuận đó hay chưa.
Hơn nữa, lịch sử chứng minh rằng chúng ta – sau hai chục năm đổi mới – vẫn chỉ có công nghiệp giản đơn, toàn là gia công, lắp ráp chứ có chế được món gì ra hồn đâu!
Xin chú thích thêm rằng những dự án bê bối như tân trang tàu cũ của Vinashin hay chế biến bột ngọt của Vedan cho đến nay chưa hề đền bù cho người dân địa phương, chưa bắt đầu cải tạo – làm sạch môi trường nhưng đã bắt đầu di dời dân địa phương đi nơi khác BẰNG KINH PHÍ NHÀ NƯỚC (!?).
Khi nói về chi phí môi trường, quan TKV tuyên bố:
Không thể chỉ căn cứ vào vài tiểu tiết để đưa kết luận. Quan điểm của TKV là phải nhìn vào cả đời dự án, nhìn tương lai để tính toán các kịch bản khác nhau. Chúng tôi đều phải tính toán, khảo sát các phương án để đi đến kết luận.
Hóa ra phí làm sạch môi trường là “tiểu tiết” cơ đấy. Thế có ghê không!
Bên cạnh đó, ông Hoàng Trung Hải – phó thủ tướng – nói:
TKV tính, nếu người nước ngoài không cùng làm đường sắt thì mình vẫn phải làm. Chính phủ sẽ có chính sách nào đó để làm.
Không thấy ông cho biết cái tuyến đường sắt đó sẽ dùng vào việc gì, sẽ có hàng hóa gì được vận chuyển qua đó. Chúng ta đã có những tuyến đường bộ thuận lợi hơn đi sang Lào, Campuchia và Thái Lan rồi, xây đường sắt ở nơi hiểm trở để làm gì? Và tất nhiên, các nhà khoa học chưa kịp phát biểu gì về tuyến đường từ trên trời rơi xuống này.
Ở cuối bài, các quan thừa nhận là người Trung Quốc đã vào Việt Nam. Ít ra ở Tân Rai hiện có 300 công nhân Trung Quốc. Mà 300 người thì rõ là bằng nguyên một làng ở Tây Nguyên, thế mà trong cuộc họp thường kỳ của chính phủ hồi cuối tháng Ba, có vị dám thề thốt rằng không có làng người hoa nào ở cao nguyên trung phần.
Và để kết thúc, tôi xin dẫn lại lời ông chủ tịch TKV khi được hỏi lý do dự án bô-xít được lên kế hoạch từ một thập kỷ nay mà không công bố cho dân biết:
Đó không phải là việc của tôi. Trước đó, tôi có liên quan đâu, làm sao tôi trả lời(?!).
Quá hay! Vậy ra khi tiếp nhận công ty, dự án thì ông chẳng cần quan tâm xem trước đó nó ra sao phải không? Rồi vài năm nữa ông về hưu thì dù bùn đỏ có nhấn chìm luôn Việt Nam ông cũng vô can.
Chính quyền sẽ lấy tiền thuế của dân để di dời dân đi nơi khác chứ các ông có mất xu teng nào đền bù thiệt hại đâu, đúng không?
Nếu đưa ra quốc hội thảo luận, tôi tin rằng dự án bô-xít ở cao nguyên trung phần sẽ bị bác bỏ ngay. Nhưng đến giờ vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì cho thấy vấn đề có thể sẽ được đưa ra bàn thảo công khai.
Mang tiếng nô bộc của dân mà làm gì cũng thấy giấu nhẹm không cho chủ biết, thật là hợp hiến(*) ghê gớm!
Tôi nghe đồn mấy ông quan hiện nay chăm đi chùa lắm, cầu Trời khấn Phật, lạy lục sì sụp suốt. Nhưng nghe qua tuyên bố của các ông thì hẳn là Trời, Phật phải lạy các ông thôi!
(* Tham khảo thêm hiến pháp Việt Nam)
Giao trứng cho ác
Posted On at at 7:15 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Chúng tôi nhận được từ bạn hữu chuyển đến một bài viết đầy bức xúc, đăng trên blog Lê Tuấn Huy với nhan đề "Đồng tiền và Chủ quyền". Tác giả tỏ ra khá uất ức về việc Bộ Thương mại nay là Bộ Công thương của ta đã nhường chủ quyền thông tin của cho phía Trung Quốc.
Cẩn thận điều nghiên các thông tin trong bài viết trên, chúng tôi nhận thấy bức xúc của blog Lê Tuấn Huy cũng có cái lý của mình. Nhưng để nhìn vấn đề một cách rõ nét hơn, chúng tôi có một vài thông tin và nhận định tức thời như sau:
1- Xuất xứ của trang nhà (website) hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước VN và Trung Quốc
Theo thông tin của báo chí Việt nam [1, 2, 3], vào cuối năm 2006, Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương) đã cùng với Bộ Thương mại Trung Quốc đưa ra sáng kiến xây dựng một website chung về hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Và trang nhà này chính thức ra mắt vào ngày 16/11 nhân dịp ông Hồ Cẩm Đào (Tổng bí thư kiêm Chủ tich TQ) sang thăm chính thức Việt Nam.
2- Lý do thành lập trang web
Mục đích ra đời của trang web được nêu rõ theo bản tin dưới đây [3]. Tóm tắt, là để trao đổi thương mại song phương của hai nước Việt Nam và Trung Quốc; đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước, thúc đẩy việc trao đổi thông tin, quan hệ và hợp tác giữa các doanh nghiệp; và hỗ trợ nhiều hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước có cơ hội giao lưu và tìm kiếm đối tác.
3- Nguồn cung cấp thông tin
Cũng theo bản tin này [3] cho biết, trang web là do cả hai bên Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Việt Nam và Trung tâm Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Trung Quốc đồng thiết lập, xây dựng về mặt kỹ thuật và cung cấp nội dung.
4- Nhận xét
Như vậy là đã rõ ràng, trang nhà hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước (sẽ gọi tắt là trang hợp tác) VN và Trung Quốc là được thành lập dưới sự thoả thuận chính thức giữa hai nước VN-TQ thông qua Bộ Công thương. Cho nên, việc có hai tên miền chinavietnam.gov.cn và vietnamchina.gov.vn là chính danh và có tính pháp lý.
Tuy nhiên, sự ra đời của trang nhà này có thực sự là sáng kiến giữa hai Bộ của hai nước hay không? Nói sáng kiến, theo định nghĩa là một ý tưởng mới, có tính nguyên thuỷ, sáng tạo và chưa ai nghĩ ra trước đó. Nhưng loai gọi là "trang nhà hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước" này, Trung Quốc đâu chỉ có làm với Việt Nam; mà từ lâu, TQ đã tạo ta các "trang hợp tác" như thế này với nhiều nước khác theo một kiểu rập khuôn. Tất cả các trang nhà này đều do Trung tâm Thương mại Điện tử Quốc tế của Trung Quốc, đóng đô ở Bắc kinh, tạo ra và quản lý [4]. Và những website này ra đời từ những năm 2000 hoặc sớm hơn, như trang hợp tác Trung Quốc với Nam Phi (2000), với Indonesia, với Singapore (2005) [5]. Trang hợp tác với Việt nam còn thuộc loại "em sinh sau đẻ muộn" thì sao lại gọi là "sáng kiến giữa hai nước" được! Mà rõ ràng, đây là "sáng kiến" của phía Trung Quốc, chủ định và chủ động đề nghị Việt Nam làm đó chứ! Không biết kiểu trang "đa sinh" này sẽ có thêm bao nhiêu em nữa, chúng ta chẳng biết!
Như Lê Tuấn Huy bức xúc cũng khá xác đáng. Trích: "Đến đây có thể thấy rằng, Bộ Công thương (mà trước đó là Bộ Thương mại), trên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nhất quán, từ chỗ nhường chủ quyền thông tin cho Trung Quốc qua việc chỉ chuyển tải những thông tin đối nội, đối ngoại, chiến lược, quân sự… của nước họ, đến chỗ đánh mất cả chủ quyền quốc gia qua việc để cho những thông tin đó xâm phạm đến chính chủ quyền của Việt Nam! Việc biểu thị chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lãnh thổ đã chiếm đoạt của Việt Nam lại được thực hiện ngay trên lãnh địa của Việt Nam, bằng chính con người Việt Nam và phương tiện Việt Nam! " Hết trích dẫn.
Nhưng thực tế phía bên Bộ Công thương Việt Nam có lẽ ngay từ đầu có được phép sờ vào vấn đề kỹ thuật trang web bao giờ đâu mà "nhường" với "đánh mất" chủ quyền thông tin. Cùng lắm là họ tạo cho một cửa sổ để được phép lên tin cho hợp lý hợp tình. Ở đó, việc phải làm là chỉ cần dán tin vô trong một khung được sắp đặt sẵn, nhưng phải qua ban điều hành trang web, cho thì lên, không thì vào sọt rác. Có thì mới nhường mới mất, chứ không có thì làm gì mà mất với chả nhường!
Tât cả các thông tin trên trang hợp tác Việt-Trung này là do phía Trung Quốc hoàn toàn thao túng và điều khiển, nên họ muốn đưa gì chả được, nên Lê Tuấn Huy bận lòng chi thắc mắc và lên án Bộ Công thương đã "nối giáo cho giặc"! Kể cả có thư hay công văn hay công hàm gửi đến khiếu nại đi nữa, chẳng ai chịu "đục bỏ" thì làm gì được nhau?
Nhưng dù sao, đó cũng là chuyện 'tình ngay lý gian'. Oan này Bộ Công thương (nếu có ai khiếu kiện- mà có lẽ cũng đã đến lúc cần khởi kiện một Bộ của nhà nước tự đánh mất chủ quyền quốc gia dù là hữu ý hay vô tình, chứ không ư?) kêu trời sao cho thấu!
Bộ Công thương (Thương mại cũ) có ngây thơ trong việc này không? Dĩ nhiên là không, nhưng chắc họ không làm gì được trong cái thế "cây gậy và củ cà rốt (thối)", mà phải đóng vai trò cầm bút ký..."ủy thác" cho phía "bạn"!
Nghe chuyện này lại nhớ đến cổ tích "Mỵ Châu-Trọng Thủy", Mỵ Châu bị oan vì không biết, không ý thức. Còn Bộ Công thương có bị oan như Mỵ Châu trong chuyện "giao trứng cho ác" này không? Cũng cố gắng để tin và hy vọng là như vậy!
Bauxite Việt Nam
| Những trang "anh em đa sinh" hợp tác Kinh tế và Thương mại giữa Trung Quốc và ................ |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Nam Phi-Trung Quốc (2000) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại In-đô-nê-xi-a-Trung Quốc (?) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Singapore-Trung Quốc (2005) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Việt Nam-Trung Quốc (16/11/2006) |
| [1] Xây dựng Website hợp tác kinh tế và thương mại Việt - Trung Lao Động số 315 Ngày 15/11/2006 Cập nhật: 7:36 AM, 15/11/2006 (LĐ) - Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại) ngày 14.11 cho biết, Bộ Thương mại Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến xây dựng một website chung về hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Trước đó, ngày 11.11, Thứ trưởng Bộ Thương mại VN Phan Thế Ruệ và Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Trần Kiện thay mặt hai bộ đã ký bản thoả thuận xây dựng Website hợp tác kinh tế thương mại Việt-Trung. Ngày 16.11, website sẽ chính thức được khai trương nhân chuyến thăm chính thức VN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Công Thắng Nguồn: Báo Lao Động |
| [2] Website Hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước VN và Trung Quốc đã chính thức khai trương tại địa chỉ: www.vietnamchina.gov.vn và www.chinavietnam.gov.cn.vào ngày hôm qua, 16-11. Thứ sáu, 17 Tháng mười một 2006, 11:40 GMT+7 Bộ Thương mại VN và Bộ Thương mại Trung Quốc đã có sáng kiến phối hợp thành lập một website chung nhằm này hỗ trợ nhiều hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước có cơ hội giao lưu và tìm kiếm đối tác. Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại VN và Trung tâm Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Trung Quốc là hai đơn vị đầu mối thiết lập, xây dựng về mặt kỹ thuật và cung cấp nội dung cho website. Thông tin trên website được cung cấp bằng cả tiếng Việt và tiếng Trung. Nội dung chủ yếu của website là cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp cả hai nước bao gồm: chính sách và quy định về thương mại, đầu tư, các dữ liệu kinh tế vĩ mô, thông tin các ngành, thị trường, doanh nghiệp và sản phẩm, tình hình xuất khẩu - nhập khẩu… Website sẽ đăng các cơ hội kinh doanh, các chào bán, chào mua của doanh nghiệp VN và Trung Quốc đã được Bộ Thương mại của hai nước thẩm định. Đây có thể coi là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng quan hệ kinh doanh với nhau. M.PHÚC Nguồn: Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) - Bộ thông tin và truyền thông |
| [3] Chính thức khai trương Website Hợp tác kinh tế và thương mại Việt Nam - Trung Quốc 2006-11-26 13:34:56 Ngày 16 tháng 11 năm 2006, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ khai trương Website Hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tham dự Lễ khai trương có đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng chí Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo các cơ quan, bộ ngành của hai nước. http://www.cvc.mofcom.gov.cn/cvweb/vcc/info/Article.jsp?a_no=52621&col_no=575 |
| [4] Địa chỉ nguồn quản lý website hợp tác thương mại Việt Nam-Trung Quốc nằm ở đây: inetnum: 211.88.0.0 - 211.88.255.255 |
| [5] Các trang nhà do China International Electronic Commerce Cernter đã và đang làm chủ: www.sco-ec.gov.cn Qua các cửa ngỏ chính này, các trang phụ được hình thành (Các đường links dưới đây được trích từ Blog Giao) |
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090513_giaotrungchoac.htm
Đồng tiền và chủ quyền
Posted On Wednesday, May 13, 2009 at at 11:33 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Chỉ một động thái giáo dục, cục bộ, ở cấp tỉnh thôi mà người có tâm đã mừng rơn, vì họ ý thức được rằng chủ quyền là không thể đánh đổi. Vậy mà với một động thái khác, về mặt chính trị, trên toàn cục, ở cấp cao hơn, thì ý thức đó dường như “có vấn đề”. Không đâu xa, chính là ở Bộ Công thương, nơi đang là đối tượng bất bình của dư luận do một Thông cáo Báo chí mà trong đó, đã kết luận rằng Kiến nghị ngày 17/04/2009 quanh việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, là “[h]oàn toàn bịa đặt và kích động”.
“Động thái khác” được nói đến là đây, là trang có tên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà tôi tình cờ tìm thấy từ đâu đó.
Những website về hợp tác kinh tế quả thực rất hữu ích, cho dù đối tượng có là nước nào, huống hồ Trung Quốc là một trong những đối tác “chiến lược”. Thế nhưng, trang này lại không thuần túy về kinh tế mà trước hết, là một trang chính trị!
Tại trang chủ, hàng menu ngang và các mục về kinh tế, ngoài màu đậm được dùng làm nền cho tên của module, thì xem ra chúng không quan trọng bằng ba module về chính trị - xã hội, được đặt ngay trung tâm, là Thời sự, Chính sách và Luật pháp, và Thông tin mới. Khác với những mục kia, các bài tại ba module này được đưa tựa cụ thể như trên một trang tin báo chí, và nếu tin nào module chưa bị đẩy xuống do có bài mới, thì chỉ cần cái nhấp chuột đầu tiên sau khi vào trang chủ, là có thể đến ngay cái muốn đọc. Cũng khác nữa, tin ở đây được cập nhật thường xuyên, liên tục, trên tất cả lĩnh vực, từ chính trị đến văn hóa, quân sự đến y tế…, thuộc đủ hai mảng đối nội và đối ngoại của nhà nước Trung Hoa. Ngay cả khi vào mục Hợp tác hai bên ở cuối trang chủ, ta cũng thấy không chỉ “hai bên” và chỉ về kinh tế, mà là nhiều bên “đối tác“ của Trung Quốc, và trên mọi vấn đề, kể cả quân sự. Về nguồn tin, chính yếu là Tân hoa xã, các trang mạng Trung Quốc và CRI (Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc), ngoài ra là một số bài chủ đề quan hệ Việt – Trung tại Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Trang tin Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Nếu xem việc ở các nước xã hội chủ nghĩa, chính trị là thống soái, và nếu lấy thái độ “hòa hảo” làm trọng, ta có thể tạm chấp nhận điều đó. Thế còn điều được minh họa ngay dưới đây, thì sao?
Trong khi Việt Nam phải theo dõi sát hải trình của Ngư Chính, thì bài này được đăng thản nhiên, gọi tên lãnh thổ Việt Nam bị chiếm đoạt bằng tên Trung Hoa:
Còn đến đây thì có lẽ không cần thêm lời nào nữa:
Phải chăng trên cơ sở hợp tác hai chiều và bình đẳng, tại phiên bản tiếng Việt, thông tin, quan điểm của Trung Quốc được trình bày, còn tại phiên bản tiếng Hoa, là thông tin và quan điểm của Việt Nam? Rất tiếc, không phải thế! Theo Lê Trung Thành, du học sinh tại Đài Loan, người Việt Nam duy nhất đã đến Bangkok để giương biểu ngữ “Hoang Sa & Truong Sa Belong to Vietnam” khi đuốc Olympics Bắc Kinh đi qua đây, là người mà tôi nhờ để đối chiếu hai phiên bản ngôn ngữ của website này, thì cho đến cuối tháng Ba vừa rồi, tại mục Thời sự của bản tiếng Hoa, tin này nọ của Việt Nam thì có nhưng tuyệt nhiên không hề có lập trường của Việt Nam về biển đảo – tương ứng với những sự việc đập vào ý thức người đọc Việt nam như vừa nêu – mà lại được đưa ra cho người đọc Trung Hoa.
Lại nữa, việc coi thường thành tố Việt Nam trong sự “hợp tác” này không chỉ về mặt nội dung, mà cả hình thức nữa. Trong lúc cập nhật theo ngày cho những thông tin, quan điểm Trung Quốc, sử dụng ngôn phong Trung Quốc, thì người ta lại không cần biết đến việc đã rất nhiều, nhiều tháng qua, Bộ Thương mại đã sáp nhập với Bộ Công nghiệp thành Bộ Công thương, sau Nghị định 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007.
Bên trên, tôi nói trang này được tìm thấy “từ đâu đó” là vì trên website của Bộ Công thương, kể cả trang con của Vụ Hợp tác Quốc tế, ta không thấy link hay banner đến một trang hợp tác cụ thể với một nước nào. Trên Trang tin Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (http://www.chinhphu.vn/ hay http://www.vietnam.gov.vn) và tại sơ đồ website của nó cũng thế. Trong khi đó, ở cuối các trang của Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đều có ghi:
Và, ở phiên bản tiếng Việt, tên miền cấp 1 của nó là .vn, cấp 2 là .gov. Ở phiên bản tiếng Trung, tên miền tương ứng là .gov.cn. Như vậy, phiên bản tiếng Việt của trang này là một website thuộc hệ thống Cổng thông tin Điện tử Chính phủ.
Đến đây có thể thấy rằng, Bộ Công thương (mà trước đó là Bộ Thương mại), trên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nhất quán, từ chỗ nhường chủ quyền thông tin cho Trung Quốc qua việc chỉ chuyển tải những thông tin đối nội, đối ngoại, chiến lược, quân sự… của nước họ, đến chỗ đánh mất cả chủ quyền quốc gia qua việc để cho những thông tin đó xâm phạm đến chính chủ quyền của Việt Nam! Việc biểu thị chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lãnh thổ đã chiếm đoạt của Việt Nam lại được thực hiện ngay trên lãnh địa của Việt Nam, bằng chính con người Việt Nam và phương tiện Việt Nam!
Trừ trường hợp website này là do Trung Quốc ngụy tạo hay đã bị Trung Quốc “cưỡng chiếm”, Bộ Công thương không thể chối bỏ trách nhiệm đã tuyên truyền cho Trung Quốc về chủ quyền mà họ chiếm đoạt đối với biển đảo Việt Nam!
Ai cũng rõ, việc làm ăn của người Việt với các đối tác Trung Hoa ngày một mở rộng và tăng cường, người ta tìm đến mọi cơ hội, từ lớn nhất đến bé nhất. Vậy hàng ngày, bao nhiêu doanh nhân Việt khi tìm kiếm cơ may từ trang web này, đã tiếp nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với “Tây Sa”, “Nam Sa” và “hùng tâm chính đạo” của họ?! Tác động chính trị và chủ quyền đến giới doanh gia, thông qua làm ăn, quả là một đòn ác hiểm vì họ là phần nào hiện thân của tầng lớp trung lưu, vốn giữ vai trò quan trọng trong những chuyển đổi xã hội.
Một vế trong tên gọi của Bộ Công thương liên quan đến mua bán. Đã mua bán thì gắn liền với tiền bạc. Vậy bộ này sẽ trả lời sao trước việc dùng chủ quyền làm cái “trao đổi” cho các “mối làm ăn”? Một lời đáp giả định phần nhiều sẽ phức tạp, nên nó sẽ khó mà có được từ cơ quan trung ương này; nhưng đối với công luận, sẽ đơn giản hơn nhiều: khi mua bán, đụng đến vài “rẻo” lãnh thổ, người ta có thể nói là “bán đất”, chứ đụng đến chủ quyền, người ta dứt khoát sẽ nói là bán cái thứ đối nghĩa với “đất” mà dù không nói ra, ai cũng biết là gì!
-
(Ghi chú: hiện trạng của các trang trên Website Hợp tác kinh tế… được nêu trong bài là tính đến 3.15h ngày 12/05/2009, các web Việt Nam khác là tính đến 9.15h ngày 12/05/2009)
Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA--?cq=1&p=895