Khai thác Bauxite Tây Nguyên: "Căn bệnh Hà Lan" hay là "lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên"
Posted On Saturday, May 16, 2009 at at 5:20 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Phạm Minh Ngọc
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (Hồ Chí Minh)
Từ khá lâu rồi, chính xác là từ những năm 60 của thế kỉ trước các nhà khoa học đã nhận thấy hậu quả nghiêm trọng về chính trị và kinh tế mà các nước giàu tài nguyên thiên nhiên có thể gặp. Họ gọi đấy là “căn bệnh Hà Lan” hay là “lời nguyền rủa của tài nguyên” để mô tả quá trình suy sụp của ngành công nghiệp, hậu quả của những khoản thu nhập to lớn bất thình lình đổ về từ việc xuất khẩu nguyên liệu, nhiên liệu thô, tức là xuất khẩu những nguồn tài nguyên không thể tái sinh được. Thomas L. Friedman viết: “Tại những nước bị “bệnh Hà Lan” đồng nội tệ tự nhiên tăng giá đột ngột vì nguồn ngoại tệ chảy vào từ việc bán dầu hoả, vàng, khí đốt, kim cương hay các nguồn nguyên liệu khác. Kết quả là: hàng công nghiệp xuất khẩu không còn khả năng cạnh tranh còn hàng nhập khẩu thì xuống giá trông thấy. Người dân rủng rỉnh tiền trong túi, bắt đầu đổ xô đi mua hàng nhập khẩu, nền công nghiệp trong nước chết yếu - đấy chính là quá trình suy sụp của nền công nghiệp. Thuật ngữ “lời nguyền rủa của tài nguyên” cũng ám chỉ quá trình này, cũng nói về sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến đời sống chính trị của đất nước, ảnh hưởng đến những ưu tiên về đầu tư và ưu tiên trong lĩnh vực giáo dục. Vấn đề lúc đó sẽ là: Ai có quyền vặn “van dầu” và ai được chia bao nhiêu phần của cái bánh chứ không phải là làm thế nào bảo đảm được khả năng cạnh tranh hữu hiệu, sáng kiến và sản xuất ra hàng hoá thực cho nhu cầu tiêu dùng thực nữa”.
Hơn thế nữa, Michael L. Ross, nhà chính trị học của đại học California (Los Angeles), sau khi nghiên cứu số liệu thống kê của 113 nước trong giai đoạn từ 1971 đến 1997, đã rút ra kết luận: “Nói chung, quá chú ý đến việc xuất khẩu dầu mỏ và các khoáng sản khác là một trở ngại đối với tiến trình dân chủ hoá đất nước nhưng việc xuất khẩu các hàng hoá khác lại không có hiệu ứng như thế; hiện tượng này được tìm thấy không chỉ ở bán đảo Arab, Trung Đông và phía Nam sa mạc Sahara mà còn xảy ra ở cả các nước nhỏ nữa”.
Đấy chính là qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ do Thomas L. Friedman nêu ra: “Mức độ tự do của các quốc gia dầu mỏ tỉ lệ nghịch với giá dầu. Theo qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ thì giá dầu trung bình thế giới càng cao, tự do ngôn luận, tự do báo chí, các thiết chế về bầu cử tự do và trung thực, tinh thần thượng tôn pháp luật, sự độc lập của toà án và các đảng phái chính trị càng mờ nhạt”.
Nhưng thế chưa phải là hết, bằng vào kinh nghiệm của nước Nga, Yury Afanasiev, nhà sử học lỗi lạc, người sáng lập Trường đại học nhân văn quốc gia Nga, còn viết: “Một khi nhà nước tập trung chú ý vào nguyên liệu thô chứ không phải vào sản phẩm thì nó cũng không cần đến dân chúng nữa. Nếu đất nước có ‘đường ống dẫn’ và ‘vàng đen’ thì dân chúng trở thành gánh nặng và mối đe doạ tiềm tàng. Chế độ cho rằng lúc nào nó cũng có thể mua chuộc được dân chúng. Nó không có nhu cầu thiết lập mối quan hệ với dân chúng thông qua các định chế thông thường của một xã hội dân chủ phát triển cao”.
Tức là, khác hẳn với những nước biết mình nghèo, biết mình không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, muốn phát triển thì phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ở những nước đó, nước muốn mạnh thì dân phải giàu. Còn chính phủ của các nước giàu tài nguyên thiên nhiên thì không cần như thế, chỉ cần bán tài nguyên thiên nhiên là họ có đủ tiền để bảo đảm nuôi sống bộ máy quan liêu của mình và tiếp tục giữ mãi nhân dân trong cảnh sống phi dân chủ, nhẫn nhục và tăm tối. Đấy chính là lời nguyền rủa cay độc nhất của tài nguyên thiên nhiên. Chẳng cần phải là người thông thái cũng có thể nhận ra chuyện đó. Chỉ cần nhìn vào những nước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan, một bên và bên kia là những nước kia như Iran, Iraq thì sẽ rõ.
Đấy là những câu chuyện ở xa và đã có từ lâu. Còn đây là câu chuyện gần và mới, ông Thứ trưởng Lê Dương Quang, trong một buổi trả lời phỏng vấn đối với phóng viên của Cổng Chính phủ online, ông cho rằng chúng ta (Việt Nam) phải tìm mọi cách khai thác hết tiềm năng bauxite ở Tây Nguyên. Ngoài ra, trong khi tiếp xúc với cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (09/05/2009), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Tài nguyên nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bauxite lớn thứ ba thế giới, riêng ở Tây Nguyên trên 5 tỷ tấn và sẽ “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bauxite trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước”. Lời của ông Thứ trưởng và tái khẳng định của ông Thủ tướng, cũng là lời của một người sang, tức là lời ‘có gang có thép’, nhất định phải trở thành hiện thực. Và như thế, “căn bệnh Hà Lan” hay “lời nguyền rủa của tài nguyên” có lẽ sẽ trở thành sự thật nhãn tiền trên đất nước này.
Nhưng lần này “lời nguyền” còn cay độc hơn bội phần, bởi vì khai thác dầu khí hay vàng không tạo ra hàng triệu tấn bùn đỏ nguy hại, không tạo ra nguy cơ ô nhiễm những nguồn nước cung cấp cho hàng triệu người dân sống phía dưới hạ lưu, không đe doạ huỷ diệt môi trường văn hoá và môi trường sống của hàng triệu cư dân bản địa. Và nhất là không diễn ra ở những vùng chiến lược xung yếu của quốc gia… Thiết nghĩ kể thêm nữa cũng bằng thừa, các nhà khoa học cùng với những người hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và quân sự đã nói quá đủ rồi.
La Thành đã viết rất đúng rằng: “Bauxite Tây Nguyên hoàn toàn có thể là điểm khởi đầu cho một sự tan rã, không chỉ ở mức thể chế chính trị mà ở tầm quốc gia - dân tộc”. Chỉ xin được bổ sung thêm: Nếu hồn thiêng sông núi cùng với thể phách của các bậc tiền nhân và những lời can gián trung thực, đấy khí phách và kiến thức của những người đang sống không buộc được những kẻ tham lam và ngu xuẩn phải ngừng ngay dự định bán tống bán tháo tài nguyên quốc gia, không bảo vệ được vùng Tây Nguyên xanh, một trong những tài sản quí giá nhất mà cha ông đã để lại cho chúng ta thì quá trình Somali-hoá cái đất nước có hình chữ S tươi đẹp này là việc hoàn toàn có thể xảy ra. Đấy chính là lời nguyền rủa tối hậu đối với tất cả chúng ta. Vì đấy là “lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên”.
Thoáng nhớ lại đâu đó câu thành ngữ " Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt"!
ĐN Mạng Bauxite hiệu đính
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090516_loinguyentaynguyen.htm
Về dự án khai thác bauxite Tây nguyên: Thời gian là quan tòa của trời, đất
Posted On at at 7:10 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Nhân dân và lịch sử rất công bằng
Vào giữa thập niên 1980 của thế kỷ trước (1984-1986), sinh thời, có lần Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng đến Nha Trang. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp và hỏi ông: “Thưa thầy, hiện tình đất nước thế này, liệu người ta có ghi vào sử sách để lại cho đời sau biết không ạ!”. Sau giây lát trầm ngâm, GS. Trần Quốc Vượng bảo rằng: “Các cậu cứ yên tâm, nếu sử chính thống không ghi, thì vẫn còn có sử dân gian. Nhiều người viết sử dân gian, hàng ngày vẫn âm thầm ghi chép đấy!”. Thì ra là vậy. Thảo nào có bao nhiêu là chuyện thâm cung, bí sử của đời này, đời kia, triều đại này, triều đại khác vẫn được người đời truyền tụng. Tôi liền thể hiện cái ý đó của GS. Trần Quốc Vượng trong mấy vần thơ:
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng, năm này
Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước
Tại sao Chu Văn An phải dâng sớ chém bảy gian thần?
Tại sao ba tộc nhà Ức Trai mắc họa?
Sự thật?
Sự thật có khi không được ghi trong sử
Nhưng lại được nhân dân chuyên chở đến muôn đời
Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng năm này
Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước… [1]
Vâng! Với sử dân gian thì không thể ém nhẹm, giấu giếm, đổ vấy trách nhiệm cho người khác được. Chỉ những kẻ mất trí, hoặc vô học, ngu xuẩn mới không biết sợ sự phán xét của hậu thế. Trong kho tàng văn hóa dân gian, để răn dạy con cháu biết sống làm người tử tế, không để lại tiếng xấu cho đời sau, cha ông ta không cần nhiều lời, không cần phải tràng giang đại hải bằng tuyển tập này, toàn tập nọ, chỉ vẻn vẹn mấy chữ thôi, mà hàm ý thật thâm hậu, sâu sắc như: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”, hoặc “Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, v.v. Còn “bia miệng” trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, thì quả là công hiệu và đắc dụng vô cùng. Mọi chuyện tốt, xấu ở bất cứ đâu, từ tổng thống đến dân đen nếu mù quáng làm bậy đều được ghi chép và lập tức siêu tốc ngay trên mạng thông tin quốc tế, bất chấp thời gian, bất chấp không gian, tồn lưu vĩnh cửu. Thì, hỡi ôi! Dù các bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, như Hít-le, như … từng trùm sự sợ hãi lên cả một đất nước, cả một dân tộc, có tái thế, cũng đừng hòng bịt miệng nổi trăm họ và càng không thể lòe bịp, mị dân, đốt sách và chôn sống trí thức được nữa.
Xưa nay, ở mọi thời, người có văn hóa (xin được lưu ý, có học vị, bằng cấp cao chưa hẳn là văn hóa đã cao) dù bất kỳ làm nghề gì, ở cương vị nào, quan lại hay dân thường, đều lấy sự phán xét của các thế hệ mai sau làm điều phải sợ, mà tích đức, tu nhân. Dân thường thì mong được để tiếng thơm trong gia phả tộc họ. Bậc quân vương thì muốn được lưu danh ngời sáng trong sử sách, chứ không phải là thứ hôn quân, bạo chúa bị hậu thế đời đời nguyền rủa. Còn người cầm bút muốn không bị người đời và đồng nghiệp các thế hệ kế tiếp coi khinh, thì phải tránh xa thứ nhân cách bồi bút, nịnh hót, xun xoe, cơ hội, láu cá, tô hồng… Để trước khi về với cát bụi, không phải lội ngược dòng đi tìm cái “tôi” đã mất. Để khi sức đã tàn, lực đã kiệt, bút đã gỉ, mực đã khô rồi, nhìn lại đống tác phẩm suốt một đời cầm bút, không phải cay đắng nhận ra rằng, toàn những thứ vô bổ, không lấy được “bụm” nào, chỉ đáng vứt sọt rác…
Vâng! Quả là đáng sợ lắm cái sự “hùm chết để da …”, đáng sợ lắm cái sự “trăm năm bia đá thì mòn …”. Chuyện kể rằng, có nhà văn nọ, cũng thuộc hàng “đại thụ” của giới văn chương nước nhà, được tác giả Chân dung nhà văn “mó” tới. Khi lâm trọng bệnh, biết không qua khỏi, thấy Xuân Sách đến thăm, ông rất mừng. Sau một hồi đắn đo, ông mới nói “Cậu viết như vậy cũng được thôi, nhưng “tha” cho mình mấy chữ được không?”. Trong hoàn cảnh ấy, tác giả Chân dung nhà văn rất bối rối, đến bên ông: “Thưa anh, muộn mất rồi, sách đã phát hành hết, làm sao mà sửa được…”. Thế đấy, chỉ mấy chữ liên quan đến đời người, đời văn thôi, mà trước lúc về với tổ tiên, nhà văn đáng kính nọ còn áy náy, day dứt, biết sợ. Huống chi là những văn bản vài ba trăm chữ liên quan, thậm chí làm mất cả một phần chủ quyền lãnh thổ, hoặc dày hàng vạn chữ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quốc kế dân sinh, đến vấn đề sinh tử của đất nước và còn hệ lụy đến cả muôn đời con cháu mai sau?
Chuyện cũng kể rằng, có một dòng họ, suốt mấy trăm năm, đời này truyền đời khác kiên trì kêu oan, quyết rửa bằng được một vết nhơ mang tội giết vua cho bậc tiền nhân của họ, là một đại công thần dưới triều đình xưa.
Vâng! Nếu thời gian là quan tòa rất vô tư của trời đất, phán quyết việc đúng sai, thì NHÂN DÂN và LỊCH SỬ bao giờ cũng công bằng với tất cả. Một Trần Thủ Độ có công sáng lập triều Trần, thay thế triều Lý đã đến thời mục ruỗng, thối nát, nhưng cái cách ông đối xử với con, cháu triều đại cũ thì không được nhân dân chấp nhận. Và, dù có công to, ông vẫn không được nhân dân lập đền thờ cũng là điều dễ hiểu. Nhưng với một khai quốc đại công thần Ức Trai uyên bác, chứa chan lòng yêu nước thương dân, dù oan khuất dậy trời xanh, thì vẫn được nhân dân đời đời thờ phụng.
Trở lại với các dự án khai thác bauxite ở Tây nguyên hiện nay và dòng sử dân gian, như ý của cố GS. Trần Quốc Vượng. Phải khẳng định ngay rằng, việc đúng sai đã quá rõ rồi. Mọi việc còn lại là của người chép sử và quyết định cuối cùng là của nhân dân với người đại diện cho mình là Quốc hội. Xin có vài lời bày tỏ:
Sử dân gian sẽ chép rằng: Vì đại sự Quốc gia, cái ý tưởng khai thác bauxite ở Tây nguyên đã phải “chết” từ gần 30 năm trước. Sau cũng ngần ấy năm, vùng cao nguyên hùng vĩ, với không gian văn hóa cồng chiêng rất đáng tự hào này, đã đưa nước ta trở thành một trong những “cường quốc” xuất khẩu cà phê của thế giới. Nhưng cái từ bauxite này lại bắt đầu “sống” lại vào ngày 3/12/2001 với chữ ký của ông Tổng Bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh, trong bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, nhân chuyến ông Nông Đức Mạnh thăm Bắc Kinh. Tiếp đến là sự nhất trí cao, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, của lãnh đạo Đảng và nhà nước. Cụ thể là phát biểu của các ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày, tháng, năm tại …; ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ngày, tháng, năm, tại …; ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời cử tri thủ đô ngày, tháng, năm, tại …; của ông Bộ trưởng Bộ Công thương, của ông … của ông … và của ông … vân vân.
Sử dân gian cũng ghi rõ: Báo chí trong nước với lực lượng hùng hậu ngót một ngàn tờ báo và tạp chí các kiểu, cùng đội ngũ người cầm bút đông vào hàng nhất nhì thế giới, thì hầu như im thin thít, ngoài một vài bài lẻ tẻ trên báo điện tử được cấp phép và trên vài trang Blog cá nhân. Còn các tờ báo mạng khác của Việt kiều ở nước ngoài thì phản ứng quyết liệt, với nhiều bài phân tích có tính khoa học cao, đầy trách nhiệm của các học giả trong và ngoài nước.
Sử dân gian cũng ghi những trang rất đậm dành cho trí thức Việt Nam, bộ phận ưu tú nhất của cộng đồng, rằng: Tuy có một bài báo mạng với cái tít rất khó chịu“Trí thức Việt Nam, đứa con hoang mất nết của dân tộc”, nhưng một số nhà khoa học hàng đầu trong nước, chỉ một thời gian ngắn đã kịp thời tập hợp được lực lượng đông đảo những nhà khoa học tên tuổi, đầy uy tín, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, những nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn, nhà giáo … giàu tâm huyết và trách nhiệm với dân, với nước cùng ký tên trong bản kiến nghị chung gửi giới lãnh đạo cao nhất, đề nghị dừng ngay các dự án khai thác bauxite, để trừ mối đại họa lâu dài cho đất nước, vân vân và vân vân.
Còn với Quốc hội, thì sử dân gian sẽ chép rằng: Theo Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống công quyền, là đại diện cho quyền lực của Nhân dân. Dù là Quốc hội nào, độc đảng hay đa đảng, đều phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về những phán quyết của mình. Nếu thực sự là đại diện tối cao của nhân dân, Quốc hội khóa 12 phải có những phán quyết ở tầm trí tuệ cao về các dự án khai thác bauxite này. Mặc dù ông Nguyễn Phú Trọng trả lời với cử tri thủ đô như vậy, nhưng đó chỉ là ý kiến cá nhân. Ông ta cũng chỉ được bỏ một lá phiếu. Tuy nhiên … và … nhưng … (phần này sử dân gian còn để giấy trắng, vì phải chờ diễn biến thực tế về vấn đề bauxite tại các kỳ họp sắp tới của Quốc hội). Khi ấy, vị dân biểu nào nói gì, nói ra sao, có tâm huyết, trách nhiệm với lịch sử, với đất nước, với nhân dân đến mức nào, sẽ được sử dân gian ghi chép rất chi tiết, đầy đủ, thậm chí chụp cả ảnh, ghi thành phim … để lưu truyền cho hậu thế.
Cuối cùng, người viết bài này chỉ xin được nhấn mạnh một điều mà chắc chắn quý vị đang nắm trọng trách của đất nước hiện thời, như các ông: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, cùng quý vị khác trong Bộ Chính trị… đều phải thừa nhận rằng: THỜI GIAN LÀ QUAN TÒA CỦA TRỜI, ĐẤT. NHÂN DÂN và LỊCH SỬ RẤT CÔNG BẰNG.
Nguyễn Chính
HD Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
[1] Bài thơ này đã đăng trên tạp chí Văn nghệ Nha Trang năm 1987, vào lúc mà người ta hay nói đến việc văn nghệ được “cởi trói”.
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090515_thoigianlaquantoa.htm
Hai thắc mắc về vụ bauxite Tây Nguyên
Posted On Thursday, May 14, 2009 at at 7:12 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Dư luận về vụ này đang xôn xao thêm từng ngày, không chỉ các trang mạng trong nước mà cả báo chí quốc tế cũng đưa tin sát sao. Bộ Chính trị đã có kết luận, bây giờ mọi người còn hồi hộp theo dõi xem Quốc hội sẽ thảo luận vấn đề này như thế nào. Vị dân biểu Nguyễn Lân Dũng đã sớm cho biết ý kiến là ông đã "hoàn toàn thoả mãn" với các kết luận của BCT rồi, nhưng còn mấy trăm vị nữa, quốc dân cũng rất mong các vị tỏ rõ chính kiến.
Với tư cách là một công dân, tôi có một thắc mắc từ đầu mà đến nay tôi vẫn chưa biết rõ.
Đó là vấn đề: ý tưởng về dự án Bauxit khởi đầu do ai (phía VN hay phía TQ) nêu lên? Không nhắc lại việc VN đề xuất với khối Comecom hồi đầu thập kỷ 1980 đã được các chuyên gia Nga góp ý không nên thực hiện. Hồi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Phó thủ tướng trực tiếp thụ lý vấn đề này, đại tướng đã cho biết rất rõ trong bức thư, nay ai nấy đều được biết cả rồi. Điều tôi thắc mắc là trong và sau quá trình bình thường hóa quan hệ VN-TQ, bên nào là phía đầu tiên đề xuất vấn đề hợp tác khai thác Bauxit ở Tây Nguyên?
Việc đó:
a- Đơn thuần là một sáng kiến làm kinh tế có lợi cho cả đôi bên, được đề xuất riêng biệt, trong hoàn cảnh hợp tác bình thường như bao viêc kinh doanh buôn bán khác lâu nay ?
b-Hay là một đề tài được đề xuất cả gói (chung với các yêu cầu đề nghị khác) được đem ra đàm phán để tiến đến ký kết bình thường hóa quan hệ Việt - Trung?
Hai khởi đầu khác nhau dẫn đến các cách giải quyết vấn đề khó dễ khác nhau.
Nếu đơn thuần là hợp tác kinh tế thì tôi nghĩ Đảng cứ để cho bên chính quyền (Thủ tướng) làm, đồng thời cũng nên để cho dư luận xã hội tham gia đóng góp ý kiến, càng nhiều phản biện càng tốt. Chính các nhà lãnh đạo của Đảng mấy năm gần đây cũng rất nhiều lần kêu gọi như vậy. Thế nhưng đang khi nhiều nhà chuyên môn hiểu sâu về bauxit đang nghiêm túc tranh biện thì Thủ tướng lại nói đây là "chủ trương lớn của Đảng", rồi Bộ Chính trị lại ra bản kết luận, khiến cho dư luận nhân dân không khỏi cảm thấy đây không đơn thuần là vấn đề hợp tác kinh tế có lợi đôi bên, mà là một vấn đề chính trị ngoại giao hệ trọng liên quan đến quan hệ hai nước Việt-Trung.
Đành rằng việc quốc gia cũng có khi phải giữ bí mật (trong thời gian ngắn) để tiện làm việc, nhưng nay Trung Quốc tuyên bố rõ ràng rồi: quan hệ với Việt Nam là quan hệ láng giềng hữu nghị, minh bach công khai, theo thông lệ quốc tế chứ không theo cách nói tinh thần "đồng chí" CSCN như xưa nữa. Gần đây nhất sau khi VN nộp hồ sơ về thềm lục địa mở rộng thì TQ lập tức đã gửi công hàm phản đối, mà ta cũng đã gửi ngay công hàm phản đối hồ sơ của TQ, như thế là công khai minh bạch, không có gì khuất tất. Xa nữa thì như công hàm 1958 của Thủ tương Phạm Văn Đồng, trước họ cũng giữ kín không nói rõ, nhưng gần đây họ cũng đã họp báo phổ biến khắp thế giới rồi, có gì phải "bí mật" để giữ quan hệ đâu? Vậy thì vấn đề có tên dự án Bauxit Tây Nguyên trong các đề xuất cả gói khi đàm phán bình thường hóa quan hệ Viêt - Trung hay không Chính phủ cũng nên công khai thông báo cho cả nước được biết.
Cứ để tình trạng lờ mờ như hiện nay, dư luận có thể suy ra là có một sự gì đó rất khác thường, vì dự án Bauxit Đắc Nông được nêu lên trong thông cáo chung sau cuộc hội đàm của người đứng đầu hai ĐCS Trung Quốc-Việt Nam năm 2001, tức là một việc lớn chứ không phải việc lặt vặt chỉ ở mức 600 triệu USD chưa đủ quan trọng để thảo luận ở Quốc hội như ông Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng mới phát biểu gần đây. Lưu ý rằng nếu Chính phủ ta không chủ động nói rõ vấn đề này thì đến một lúc thích hợp nào đó chính ĐSQ Trung Quốc tại VN họ cũng sẽ nói ra. Mọi người hẳn còn nhớ vụ phá cây xanh xây khách sạn trong công viên Thống nhất, khi dư luận rộ lên, đại diện văn phòng UBND TP Hà Nội nói lờ mờ dự án ấy liên quan đến nhà đầu tư Thuỵ Điển là nước có công ủng hộ ta trong kháng chiến chống Mỹ, cách không mấy ngày ĐSQ Thuỵ Điển đã ra thông cáo cải chính ngay là họ không liên quan gì đến công trình khách sạn ấy nữa! Tôi hy vọng rằng dự án Bauxit Đắc Nông hay Tây Nguyên không nằm trong một hiệp nghị tổng thể nào quan trọng như tầm cỡ hiệp định khôi phuc quan hệ bình thường giữa hai nuớc.
Lại nữa, ngay cả khi nó đã được trói vào phần cứng đó, thì dư luận cũng cần được biết thêm "sáng kiến" bauxit ấy là do phía VN chủ động nêu lên cho “đủ sức nặng” để trao đổi với gói của Trung Quốc, hay ngược lại là do phía TQ nêu lên – nghĩa là TQ đòi bauxit như một điều kiện trong gói đàm phán?
Thật khó khăn, nếu như tên Bauxit Đắc Nông đã được ghi trong phần cứng của một hiệp định VN-TQ ở tầm cỡ quốc gia. Nếu có chuyện đó, các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước lại càng cần cho toàn dân biết rõ để đồng thuận tìm cách giải quyết, chứ không nên giữ im coi là "chuyện đã rồi" như ông dân biểu Dương Trung Quốc có nói đến. Ký kết rồi mà không thực hiện thì TQ họ sẽ nói VN mình "lật lọng" (tôi xem internet TQ thấy rất nhiều các bài vở thiếu hữu nghị với VN như vậy). Nhưng tôi nghĩ rằng, hãy tổ chức các hội thảo khoa học một cách khách quan (chứ không phải hội thảo đạo diễn như cuộc vừa qua) để xác định lợi ích được - mất của dự án, thậm chí cần phải mời cả các tổ chức quốc tế có uy tín làm tư vấn thẩm định v.v. Rồi Quốc hội thảo luận một cách rất thẳng thắn dân chủ công khai, nếu cần dừng hay điều chỉnh thế nào thì sẽ thương thảo lại với phía TQ, họ chịu hay không là một chuyện, chứ có gì mà cứ phải giữ kín lờ mờ ? Đó là một tình thế có thể nói là khá kẹt, nhưng nếu cần vẫn phải làm. Thế giới ngày nay có những cuộc khủng hoảng tưởng xẩy ra chiến tranh tới nơi mà người ta vẫn giải quyết được, vụ bauxit làm gì đã đến mức như vậy mà e dè không muốn nói thật ra?
Cuối cùng, nếu quả thật dự án Bauxit Đắc Nông (hay Tây Nguyên nói chung) không bị gắn vào một cam kết cứng nào đó phải thực hiện, các khả năng còn lại đôi bên chỉ coi như một dự án hợp tác giữa các tập đoàn kinh tế với nhau thì lại càng có thể tìm ra lối thoát. Giả dụ cứ "cố đấm" làm cho được cái dự án ấy, thì về môi trường, Tây Nguyên bị tàn hại như thế, mà về lợi ích kinh tế, ông Kiển đã có câu nói rất nổi tiếng 50:50, nghĩa là rất có thể bị lỗ hoặc có lời thì mức độ cũng khá thấp! Làm gì cũng vì lợi ích quốc gia (chứ có phải việc riêng quyền lợi riêng của các vị đâu), thế thì hay gì cái chuyện cứ làm thục mạng mà dư luận hiện nay đã khá đông người không đồng tình. Dăm ba năm năm nữa lên Tây Nguyên thấy xơ xác một màu đỏ ối mà đời sống người dân Tây Nguyên chẳng khá lên được tí nào, thì thử hỏi các vị có yên tâm với công sức của bao người đã bỏ ra hay không ? (Lời lãi như ông Kiển nói đó thì lấy gì mà cải thiện đời sống cho đồng bào Tây Nguyên?).
Tôi thích xem đá bóng, thường vẫn gọi đội U22, U23, v.v. Nay tôi đã là cầu thủ đội ngoài 70 rồi, tuy theo dõi vẫn thường xuyên nhưng mấy chục năm trường trôi qua, tôi tuyệt nhiên chưa viết một bài nào về chuyện quốc gia đại sự cả. Nhưng nay những người cùng trang lứa như GS Nguyễn Huệ Chi vốn là bạn học của tôi hồi thiếu niên, sau lại cùng làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu giới thiệu di sản Hán Nôm, nay đứng chính thảo hai bức thư nêu những kiến nghị rất xác đáng với một tinh thần rất thẳng thắn, trong sáng không chút vụ lợi. Vậy thì tôi cũng phải mạnh dạn ghi lại mấy thắc mắc về sự khởi đầu của dự án Bauxít Tây Nguyên. Tôi đã mất nhiều thì giờ tra tìm, không thấy đâu nói đến. Đó là thắc mắc thật của tôi chứ không phải cách đặt ra câu hỏi để tự trả lời như thường thấy.
Nếu may mắn có vị lãnh đạo có trách nhiệm bằng cách nào đó giải đáp cho thì rất tốt (lưu ý trách nhiệm giải đáp, tránh tình trạng như chuyện ĐSQ Thuỵ Điển cải chính đã nói ở trên). Nếu không được như thế thì bàì nêu thắc mắc này kể như cũng rơi vào "sự im lặng đáng sợ". Biết làm sao nữa?
Ngô Đức Thọ
50, ngõ 210/41/11 Đội Cấn,Hà Nội
ngoductho@hn.vnn.vn
HD Mạng Bauxite Việt Nam hiệu đínhTrung Quốc: Khai thác mỏ ở nước ngoài tránh ô nhiễm trong nước
Posted On at at 11:27 AM by Bô-xít Tây Nguyên
BXTN:- Báo chí Trung Quốc cho biết "chủ trương lớn" của nhà nước họ là là đưa các hoạt động khai mỏ ra nước ngoài để tránh bị ô nhiễm trong nước. Chính phủ họ khuyến khích và tài trợ vốn cho hoạt động này!!!
Ngày 11.5.2009, hội đồng Nhà nước Trung Quốc thông qua kế hoạch ba năm, hỗ trợ ngành công nghiệp khai thác chế biến kim loại màu (nhôm, đồng…) theo hướng tái cấu trúc và hiện đại. Theo đó, sẽ thành lập 3 – 5 doanh nghiệp chủ đạo trong ngành, và đến năm 2011 có 10 doanh nghiệp hàng đầu nắm đến 90% sản lượng đồng, 70% sản lượng nhôm, 60% kẽm… Các nhà máy nhôm, đồng… ô nhiễm sẽ bị đóng cửa, chính phủ khuyến khích và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư khai thác mỏ ở nước ngoài, kể cả hình thức liên doanh liên kết. Các doanh nghiệp lớn sẽ được hưởng lợi từ kế hoạch này, trong đó có Chinalco, China Minmetals.
Trung Quốc sẽ kiểm soát chặt việc sản xuất kim loại màu tại nước này, để tiết kiệm 1,7 triệu tấn than, 6 tỉ kWh điện và giảm 850.000 tấn khí thải sulfur dioxide mỗi năm.
H.S (ChinaDaily, Xinhua)
Nguồn: http://www.sgtt.com.vn/detail30.aspx?newsid=51324&fld=HTMG/2009/0512/51324
Kiến nghị bauxite
Posted On at at 8:15 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Dự án bauxite ở Tây Nguyên vẫn là đề tài đang được công luận đặc biệt quan tâm. Sau khi bản kiến nghị dừng dự án bauxite với 135 chữ ký của giới trí thức trong và ngoài nước gửi đến Quốc Hội thì chính phủ đã có những phản hồi mà nhiều người cho rằng tích cực.
Tuy nhiên, một thông cáo báo chí gửi đi từ Bộ Công Thuơng lại bị giới trí thức trong nước cho là thiếu thiện chí và có ý chụp mũ những người ký tên vào bản kiến nghị này.
Để phản biện lại thông cáo này, nhóm vận động chữ ký đã gửi tiếp một bản kiến nghị thứ hai cho ba nhân vật cao cấp nhất của Việt Nam là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng.
Mặc Lâm phỏng vấn GS Nguyễn Huệ Chi, người đồng chủ trương và viết bản kiến nghị này, để tìm hiểu thêm vấn đề.
Dự luận hoan nghênh
Mặc Lâm : Thưa Giáo Sư, sau khi bức thư ngỏ thứ hai được gửi đi thì tín hiệu của dư luận phản hồi lại như thế nào?
GS Nguyễn Huệ Chi : Từ hôm qua đến nay dư luận phản hồi đối với thư ngỏ số hai của chúng tôi rất là sôi động, hoan nghênh lá thứ ngỏ của chúng tôi. Tất nhiên là chúng tôi vẫn ở trong tinh thần là rất tôn trọng đường lối giữ nước và phát triển đất nước, phải có hai vế là giữ nước cho an toàn và phát triển đất nước, nhưng mà giữ nước an toàn và phát triển đất nước trên cơ sở một nền dân chủ và công bằng.
Mặc Lâm : Theo báo chí thì Bộ Trưởng Bộ Công Thương là ông Phạm Khôi Nguyên đã có mặt tại Tây Nguyên để kiểm tra về những vấn đề dư luận phản biện, Giáo Sư có cho rằng đây là một dấu hiệu lắng nghe hay không?
GS Nguyễn Huệ Chi : Chúng tôi cũng suy nghĩ rất nhiều về việc ông Nguyên lên kiểm tra tại hiện trường và đưa ra những ý kiến rằng là hố để chứa bùn đỏ chưa đạt tiêu chuẩn và một số những hạng mục chưa đáp ứng được cái yêu cầu cao về phương diện môi trường cũng như là phương diện kỹ thuật. Và ngày hôm qua ông Trương Tấn Sang là uỷ viên Bộ Chính Trị có cho công bố là phải kiểm tra lại rất nhiều, nhưng mà trong đó là tài nguyên khoáng sản của đất nước.
Đấy là những tín hiệu mà theo chúng tôi là đáng chú ý. Tất nhiên tiếng nói của trí thức chắc chắn là đến tai các ông, mặc dù trong thứ ngỏ thứ hai chúng tôi đã nói là "lá thư tâm huyết" của những người có công lớn với đất nước như là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Mặc Lâm : Giáo Sư và những người chủ trương đã gửi thư ngỏ thứ hai để phản biện lại thông cáo báo chí của Bộ Công Thương vì những lý do gì?
GS Nguyễn Huệ Chi : Sở dĩ phải trả lời Bộ Công Thương vì thực tế là Bộ Công Thương đã đưa ra một thông cáo báo chí có thể nói là làm vội vã để chống lại một kiến nghị do hàng ngàn người ký tên, mà chắc là cũng do phải theo lệnh bề trên thôi, chứ còn chúng tôi cũng thừa biết rằng những người đứng đầu Bộ Công Thương làm sao mà có thể đối đáp được với chúng tôi vì chúng tôi có bằng cớ, chúng tôi là những nhà khoa học cho nên chúng tôi làm thực chứng, bằng cớ rõ ràng.
Còn các ông ấy thì một mặt rất hạn chế về học vấn, bởi vì chúng ta đã biết cái việc đào tạo quan chức ở Việt Nam có xuất phát từ học vấn đâu, có xuất phát từ giáo dục đâu. Cho nên chúng tôi rất thông cảm với các ông ấy, không trách các ông ấy làm gì, nhưng mà ít ra khi các ông ấy làm cái việc gọi là hầu hạ bề trên thì các ông ấy phải giữ cho được tư cách, tức là sự trung thực.
Có những điều mình thấy rằng không thể cưỡng lại bề trên nhưng mình không nên nói. Các ông ấy đã nói liều cho nên chúng tôi cũng phải đắn đo rất kỹ, cuối cùng thì chúng tôi thấy phải nói lại cho nó rõ các sự thiếu trung thực của Bộ Công Thương, cái sự hù doạ một cách rất là khôi hài của Bộ Công Thương trong việc gán ghép một cái kiến nghị hết sức chính đáng của hàng ngàn con người.
Phản ứng của Chính quyền?
Mặc Lâm : Và những giới chức được nêu tên trong bản kiến nghị thứ hai gồm có Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết và Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng có phản hồi cụ thể gì hay chưa?
GS Nguyễn Huệ Chi : Rõ ràng là các ông ấy làm thinh và thái độ của ông Nguyễn Tấn Dũng theo tôi là khó hiểu. Mới hôm trước thì "xin tiếp thu ý kiến của đại tướng" nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng mà hôm sau nói với cử tri Hải Phòng thì lại nói ngay rằng "phải biến cái khai thác bauxite thành một công nghiệp lớn" thì theo tôi là khó hiểu, có chể nói là kỳ quái trong một đất nước trọng lễ nghĩa như đất nước này.
Thế nhưng điều ấy nó cũng phản ánh một điều, tức là các anh đã bị chạm phải những tiếng nói mà các anh thấy rằng không thể hoàn toàn làm ngơ được.
Mặc Lâm : Đó là những gì mà Thủ Tướng Dũng đã làm, còn ông Chủ Tịch Quốc Hội - Nguyễn Phú Trọng thì sao, thưa Giáo Sư?
GS Nguyễn Huệ Chi : Ông Nguyễn Phú Trọng là người đứng đầu quốc hội, chủ tịch quốc hội, mà quốc hội là nơi soạn thảo ra pháp luật, thay đổi cả hiến pháp, thế mà ông ấy nói rằng "theo quy định của Quốc Hội thì với số tiền như thế, như thế... không thể đưa ra bàn".
Anh chịu áp lực của pháp luật và hiến pháp, khi anh đứng đầu để soạn thảo ra hiến pháp và pháp luật, một vấn đề quan trọng như thế lẽ ra anh phải nói rằng là rõ ràng ở đây phải đưa ra bàn bởi vì nó nằm trong 1 trong 4 điều mà phải đưa ra bàn ở quốc hội nếu như cái dự án ấy ở vào cái vị thế quan trọng, hiểm yếu của đất nước. Thế mà anh lại lờ cái việc ấy đi để anh chỉ nói đến số tiền. Cho nên tất cả những lời lẽ như thế cho ta thấy một sự lúng túng.
Mặc Lâm : Giáo Sư có hy vọng những kết quả khả quan từ hai bức thư ngỏ mà Giaó Sư và những người chủ trương đang theo đuổi hay không?
GS Nguyễn Huệ Chi : Tôi nghĩ là về phương diện nào đó cho thấy thiện chí của người ta trong việc phản hồi một cách gián tiếp những điều mà dư luận đặt ra, trong đó không phải chỉ có lá thư kiến nghị và những bức thư ngỏ của chúng tôi, mà chắc đây là tiếng nói dậy sóng của toàn thể dân tộc, mà tâm huyết nhất là hai lá thư và lời nói thẳng của Đại Tướng vào đúng hôm chiến thắng Điện Biên Phủ.
Trong thư ngỏ số 2 của chúng tôi, chúng tôi rất tôn trọng, nhưng chúng tôi có đặt ở phần kết "nếu như giải pháp vẫn là giải pháp hy sinh lợi ích lớn nhất là an toàn của đất nước để phục vụ cho bên đối tác mà mình đã lỡ ký thì dân tộc Việt Nam này có lịch sử hàng nghìn năm sẽ là một dân tộc không khuất phục". Chúng tôi vẫn lắng nghe bởi vì chúng tôi là người dân, nhưng một khi người đứng đầu tỏ ra không tiếp nhận được cái tình cảm yêu nước tích luỹ từ hàng nghìn năm của dân tộc thì chính là các anh đối đầu với một vấn nạn rất lớn.
Mặc Lâm : Xin cám ơn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.
Giao trứng cho ác
Posted On at at 7:15 AM by Bô-xít Tây Nguyên
Chúng tôi nhận được từ bạn hữu chuyển đến một bài viết đầy bức xúc, đăng trên blog Lê Tuấn Huy với nhan đề "Đồng tiền và Chủ quyền". Tác giả tỏ ra khá uất ức về việc Bộ Thương mại nay là Bộ Công thương của ta đã nhường chủ quyền thông tin của cho phía Trung Quốc.
Cẩn thận điều nghiên các thông tin trong bài viết trên, chúng tôi nhận thấy bức xúc của blog Lê Tuấn Huy cũng có cái lý của mình. Nhưng để nhìn vấn đề một cách rõ nét hơn, chúng tôi có một vài thông tin và nhận định tức thời như sau:
1- Xuất xứ của trang nhà (website) hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước VN và Trung Quốc
Theo thông tin của báo chí Việt nam [1, 2, 3], vào cuối năm 2006, Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương) đã cùng với Bộ Thương mại Trung Quốc đưa ra sáng kiến xây dựng một website chung về hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Và trang nhà này chính thức ra mắt vào ngày 16/11 nhân dịp ông Hồ Cẩm Đào (Tổng bí thư kiêm Chủ tich TQ) sang thăm chính thức Việt Nam.
2- Lý do thành lập trang web
Mục đích ra đời của trang web được nêu rõ theo bản tin dưới đây [3]. Tóm tắt, là để trao đổi thương mại song phương của hai nước Việt Nam và Trung Quốc; đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước, thúc đẩy việc trao đổi thông tin, quan hệ và hợp tác giữa các doanh nghiệp; và hỗ trợ nhiều hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước có cơ hội giao lưu và tìm kiếm đối tác.
3- Nguồn cung cấp thông tin
Cũng theo bản tin này [3] cho biết, trang web là do cả hai bên Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Việt Nam và Trung tâm Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Trung Quốc đồng thiết lập, xây dựng về mặt kỹ thuật và cung cấp nội dung.
4- Nhận xét
Như vậy là đã rõ ràng, trang nhà hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước (sẽ gọi tắt là trang hợp tác) VN và Trung Quốc là được thành lập dưới sự thoả thuận chính thức giữa hai nước VN-TQ thông qua Bộ Công thương. Cho nên, việc có hai tên miền chinavietnam.gov.cn và vietnamchina.gov.vn là chính danh và có tính pháp lý.
Tuy nhiên, sự ra đời của trang nhà này có thực sự là sáng kiến giữa hai Bộ của hai nước hay không? Nói sáng kiến, theo định nghĩa là một ý tưởng mới, có tính nguyên thuỷ, sáng tạo và chưa ai nghĩ ra trước đó. Nhưng loai gọi là "trang nhà hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước" này, Trung Quốc đâu chỉ có làm với Việt Nam; mà từ lâu, TQ đã tạo ta các "trang hợp tác" như thế này với nhiều nước khác theo một kiểu rập khuôn. Tất cả các trang nhà này đều do Trung tâm Thương mại Điện tử Quốc tế của Trung Quốc, đóng đô ở Bắc kinh, tạo ra và quản lý [4]. Và những website này ra đời từ những năm 2000 hoặc sớm hơn, như trang hợp tác Trung Quốc với Nam Phi (2000), với Indonesia, với Singapore (2005) [5]. Trang hợp tác với Việt nam còn thuộc loại "em sinh sau đẻ muộn" thì sao lại gọi là "sáng kiến giữa hai nước" được! Mà rõ ràng, đây là "sáng kiến" của phía Trung Quốc, chủ định và chủ động đề nghị Việt Nam làm đó chứ! Không biết kiểu trang "đa sinh" này sẽ có thêm bao nhiêu em nữa, chúng ta chẳng biết!
Như Lê Tuấn Huy bức xúc cũng khá xác đáng. Trích: "Đến đây có thể thấy rằng, Bộ Công thương (mà trước đó là Bộ Thương mại), trên Website Hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nhất quán, từ chỗ nhường chủ quyền thông tin cho Trung Quốc qua việc chỉ chuyển tải những thông tin đối nội, đối ngoại, chiến lược, quân sự… của nước họ, đến chỗ đánh mất cả chủ quyền quốc gia qua việc để cho những thông tin đó xâm phạm đến chính chủ quyền của Việt Nam! Việc biểu thị chủ quyền của Trung Quốc đối với phần lãnh thổ đã chiếm đoạt của Việt Nam lại được thực hiện ngay trên lãnh địa của Việt Nam, bằng chính con người Việt Nam và phương tiện Việt Nam! " Hết trích dẫn.
Nhưng thực tế phía bên Bộ Công thương Việt Nam có lẽ ngay từ đầu có được phép sờ vào vấn đề kỹ thuật trang web bao giờ đâu mà "nhường" với "đánh mất" chủ quyền thông tin. Cùng lắm là họ tạo cho một cửa sổ để được phép lên tin cho hợp lý hợp tình. Ở đó, việc phải làm là chỉ cần dán tin vô trong một khung được sắp đặt sẵn, nhưng phải qua ban điều hành trang web, cho thì lên, không thì vào sọt rác. Có thì mới nhường mới mất, chứ không có thì làm gì mà mất với chả nhường!
Tât cả các thông tin trên trang hợp tác Việt-Trung này là do phía Trung Quốc hoàn toàn thao túng và điều khiển, nên họ muốn đưa gì chả được, nên Lê Tuấn Huy bận lòng chi thắc mắc và lên án Bộ Công thương đã "nối giáo cho giặc"! Kể cả có thư hay công văn hay công hàm gửi đến khiếu nại đi nữa, chẳng ai chịu "đục bỏ" thì làm gì được nhau?
Nhưng dù sao, đó cũng là chuyện 'tình ngay lý gian'. Oan này Bộ Công thương (nếu có ai khiếu kiện- mà có lẽ cũng đã đến lúc cần khởi kiện một Bộ của nhà nước tự đánh mất chủ quyền quốc gia dù là hữu ý hay vô tình, chứ không ư?) kêu trời sao cho thấu!
Bộ Công thương (Thương mại cũ) có ngây thơ trong việc này không? Dĩ nhiên là không, nhưng chắc họ không làm gì được trong cái thế "cây gậy và củ cà rốt (thối)", mà phải đóng vai trò cầm bút ký..."ủy thác" cho phía "bạn"!
Nghe chuyện này lại nhớ đến cổ tích "Mỵ Châu-Trọng Thủy", Mỵ Châu bị oan vì không biết, không ý thức. Còn Bộ Công thương có bị oan như Mỵ Châu trong chuyện "giao trứng cho ác" này không? Cũng cố gắng để tin và hy vọng là như vậy!
Bauxite Việt Nam
| Những trang "anh em đa sinh" hợp tác Kinh tế và Thương mại giữa Trung Quốc và ................ |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Nam Phi-Trung Quốc (2000) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại In-đô-nê-xi-a-Trung Quốc (?) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Singapore-Trung Quốc (2005) |
| |
| Trang nhà hợp tác Kinh tế và Thương Mại Việt Nam-Trung Quốc (16/11/2006) |
| [1] Xây dựng Website hợp tác kinh tế và thương mại Việt - Trung Lao Động số 315 Ngày 15/11/2006 Cập nhật: 7:36 AM, 15/11/2006 (LĐ) - Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại) ngày 14.11 cho biết, Bộ Thương mại Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến xây dựng một website chung về hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Trước đó, ngày 11.11, Thứ trưởng Bộ Thương mại VN Phan Thế Ruệ và Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Trần Kiện thay mặt hai bộ đã ký bản thoả thuận xây dựng Website hợp tác kinh tế thương mại Việt-Trung. Ngày 16.11, website sẽ chính thức được khai trương nhân chuyến thăm chính thức VN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Công Thắng Nguồn: Báo Lao Động |
| [2] Website Hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước VN và Trung Quốc đã chính thức khai trương tại địa chỉ: www.vietnamchina.gov.vn và www.chinavietnam.gov.cn.vào ngày hôm qua, 16-11. Thứ sáu, 17 Tháng mười một 2006, 11:40 GMT+7 Bộ Thương mại VN và Bộ Thương mại Trung Quốc đã có sáng kiến phối hợp thành lập một website chung nhằm này hỗ trợ nhiều hơn nữa cho doanh nghiệp hai nước có cơ hội giao lưu và tìm kiếm đối tác. Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại VN và Trung tâm Thương mại điện tử, Bộ Thương mại Trung Quốc là hai đơn vị đầu mối thiết lập, xây dựng về mặt kỹ thuật và cung cấp nội dung cho website. Thông tin trên website được cung cấp bằng cả tiếng Việt và tiếng Trung. Nội dung chủ yếu của website là cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp cả hai nước bao gồm: chính sách và quy định về thương mại, đầu tư, các dữ liệu kinh tế vĩ mô, thông tin các ngành, thị trường, doanh nghiệp và sản phẩm, tình hình xuất khẩu - nhập khẩu… Website sẽ đăng các cơ hội kinh doanh, các chào bán, chào mua của doanh nghiệp VN và Trung Quốc đã được Bộ Thương mại của hai nước thẩm định. Đây có thể coi là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng quan hệ kinh doanh với nhau. M.PHÚC Nguồn: Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) - Bộ thông tin và truyền thông |
| [3] Chính thức khai trương Website Hợp tác kinh tế và thương mại Việt Nam - Trung Quốc 2006-11-26 13:34:56 Ngày 16 tháng 11 năm 2006, tại Hà Nội đã diễn ra Lễ khai trương Website Hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tham dự Lễ khai trương có đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng chí Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo các cơ quan, bộ ngành của hai nước. http://www.cvc.mofcom.gov.cn/cvweb/vcc/info/Article.jsp?a_no=52621&col_no=575 |
| [4] Địa chỉ nguồn quản lý website hợp tác thương mại Việt Nam-Trung Quốc nằm ở đây: inetnum: 211.88.0.0 - 211.88.255.255 |
| [5] Các trang nhà do China International Electronic Commerce Cernter đã và đang làm chủ: www.sco-ec.gov.cn Qua các cửa ngỏ chính này, các trang phụ được hình thành (Các đường links dưới đây được trích từ Blog Giao) |
Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090513_giaotrungchoac.htm
Hạn chế tối đa ảnh hưởng của bùn đỏ và sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm trong sản xuất alumina
Posted On Wednesday, May 13, 2009 at at 4:40 PM by Bô-xít Tây Nguyên
Vấn đề môi trường mà nhiều người lo ngại nhất trong quá trình sản xuất alumina là bùn thải (bùn đỏ) và cùng với đó là nguồn cung cấp nước. Đặt vấn đề có lẽ nhầm rồi các anh phóng viên! Chẳng nhẽ điều này đáng lo ngại hơn Đánh giá tác động môi trường hay sao? Xin đọc ở đây!
Trong buổi kiểm tra dự án này ngày 9/5, bước đầu Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã bày tỏ hài lòng với phương án xử lý bùn đỏ của TKV. Sao lại có chuyện "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" vầy hè? Ồng Thứ trưởng Nguyễn Xuân Cường lại "chơi gác" Bộ trưởng khi nói "chưa chắc an toàn" (tức là chưa hài lòng) rồi!
Nhân dân địa phương rất phấn khởi chủ trương khai thác bauxite. Nhưng sao lại có tin hàng trăm hộ dân ở đây đang gặp khó khăn vì đền bù giải toả không thoả đáng! Chắc là hỏi người dân tộc ở thị xã!
Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Nông K'Beo nói với chúng tôi: Đồng bào dân tộc làm nông nghiệp nhiều đời nay mãi chưa giàu lên được. Nhưng PTT Hoàng Trung Hải đã khẳng định "Không thể làm bô-xít bằng mọi giá!"
Chủ trương của Đảng và Chính phủ phát triển công nghiệp bauxite ở vùng Đắk Nông bà con rất mừng, vì việc đó sẽ giúp phát triển công nghiệp của tỉnh, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, bà con có điều kiện thay đổi tập quán sản xuất, ổn định hơn về cuộc sống và nâng cao trình độ. Ông Chủ tịch lại nói suông, không có cơ sở rồi, sao ông biết? Hay ông lại "dựa" ông Tổng Than, "Làm rồi mới biết!"?
(13/05/2009-04:00:00 PM)
(Chinhphu.vn) - Vấn đề môi trường mà nhiều người lo ngại nhất trong quá trình sản xuất alumina là bùn thải (bùn đỏ) và cùng với đó là nguồn cung cấp nước. Để giúp bạn đọc có một cái nhìn cụ thể, nhóm phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ đã thị sát trực tiếp tìm hiểu quy trình và phương pháp xử lý các vấn đề này tại khu vực thi công của Công ty cổ phần Alumina Nhân Cơ (tỉnh Đắk Nông).
| |
| Khu vực sẽ được cải tạo thành hồ chứa bùn đỏ - Ảnh: Chinhphu.vn |
Xử lí bùn đỏ ở mức tối đa nhằm bảo vệ môi trường
Tại một khoảnh đất lõm rộng chừng 210 ha nằm ngay sát mép khu mặt bằng đã được san phẳng, cán bộ Công ty cổ phần Alumina Nhân cơ giới thiệu cho chúng tôi biết đây là khu vực dành để chứa bùn đỏ, ô đất đó sẽ được khoét sâu thêm và ngăn ra từng ô nhỏ để chứa bùn đỏ.
Theo tính toán, để sản xuất 1 tấn alumina, dự kiến khoảng 0,8- 1,5 tấn bùn đỏ được thải ra.
Trong các dự án của TKV đang triển khai, bùn đỏ được xử lí theo phương thức các gói bùn sẽ được chia nhỏ rồi thải ra nối tiếp nhau.
Khu vực bãi chứa bùn đỏ được áp dụng giải pháp chống rò rỉ hoàn thiện để tránh tình trạng dung dịch của bùn đỏ thấm thấu gây ô nhiễm nguồn nước dưới lòng đất.
Hồ bùn đỏ sau khi chia thành những ô nhỏ, nền của hồ sẽ được nạo vét; sau đó được phủ một lớp đất sét nén chặt, trên lớp đất sét là 1 lớp vật liệu chống thấm; trên nữa sẽ đặt các hệ thống ống thu nước để hút nước ra và trên cùng là lớp cát.
Khi được đổ vào các ngăn nhỏ, bùn đỏ sẽ tự lắng, sau khi hút hết nước, lượng bùn sẽ đông, khô cứng lại rồi sau đó được vùi dưới một lớp đất.
Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Alumina Nhân Cơ Bùi Quang Tiến giải thích: Đây là phương pháp đã được các nước trên thế giới sử dụng từ hơn 100 năm nay.
Hiện nay và dự báo trong tương lai khoảng 90% lượng alumina trên thế giới vẫn được sản xuất bằng công nghệ Bayer (công nghệ thuỷ luyện bằng kiềm).
Bùn đỏ thực chất là cặn không hoà tan trong kiềm và thu được trong quá trình hoà tách bauxite với dung dịch kiềm (NaOH).
Xét theo thành phần hoá học của bùn đỏ thì trong chất rắn của bùn đỏ không có chất gây hại đặc biệt đến môi trường, không có chất phóng xạ, chất rắn huyền phù bùn đỏ không thuộc loại rác thải nguy hại.
Tuy nhiên để đảm bảo an toàn, tại khu vực bao quanh hồ bùn đỏ, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam sẽ xây dựng các công trình đập ngăn nước mặt chảy tràn vào khu hồ để tránh việc nước mưa ở các khu vực xung quanh tràn vào hồ bùn.
Hệ thống đập sẽ được xây dựng thành 3 lớp để hạn chế tối đa ảnh hưởng của bùn đỏ. Các đập này được thiết kế chống được động đất cấp 6.
Khi hồ bùn đỏ đã được lấp đầy ở độ cao nhất định theo thiết kế, sẽ tiến hành lấp hồ bùn đỏ và tiến hành tái tạo sinh thái.
Bên cạnh các phương án trên, Tập đoàn đang phối hợp với một số cơ sở nghiên cứu việc tận dụng bùn đỏ
Trong buổi kiểm tra dự án này ngày 9/5, bước đầu Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã bày tỏ hài lòng với phương án xử lý bùn đỏ của TKV.
Dự án không sử dụng nguồn nước ngầm
Theo tính toán, dự án Nhân Cơ cần 28 triệu m³ nước/năm, trong đó nước dành cho nhà máy tuyển là 14 triệu m³ và nhà máy sản xuất alimina là 4 triệu m³.
| |
| Hồ Cầu Tư sẽ được cải tạo nâng công suất thêm 10 triệu m³ - Ảnh: Chinhphu.vn |
Hiện nay nguồn nước cho dự án này được Công ty dự kiến sử dụng từ 2 nguồn: suối Đắk Tít và hồ Cầu Tư.
Tỉnh Đắk Nông đã đồng ý cấp cho dự án 1.000 m³ nước/giờ và theo đánh giá, lượng nước này không ảnh hưởng tới các công trình thuỷ điện trên địa bàn.
Với nguồn nước từ hồ Cầu Tư, Công ty sẽ có phương án cải tạo để nâng công suất hồ từ 1 triệu m³ lên 11 triệu m³.
Với lưu lượng bề mặt hồ 25 km² cộng với lượng mưa trung bình 2.500mm/năm, hồ Cầu Tư sẽ dự trữ nước đủ đáp ứng cho dự án và phục vụ tưới tiêu trong cả mùa khô của tỉnh mà không cần phải sử dụng tới lượng nước ngầm.
Có thể nói, khai thác và chế biến bauxite tại Tây nguyên không thể tránh việc gây ra những tác động môi trường nhất định. Nhưng những tác động môi trường này hoàn toàn có thể được khống chế đạt mức an toàn cần thiết.
Điều quan trọng là trong quá trình triển khai thí điểm dự án, doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm túc các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phục hồi diện tích khai thác như đã đề ra. Đặc biệt công tác kiểm tra giám sát trong quá trình thi công và vận hành dự án cũng phải luôn được các cấp, các ngành giám sát chặt chẽ.
Bà con các dân tộc tỉnh Đắc Nông mà chúng tôi đã gặp, đã hỏi chuyện đều rất phấn khởi với chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển công nghiệp bauxite ở địa phương. Khai thác bauxite sẽ giúp công nghiệp nói riêng cũng như kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển, đời sống của bà con sẽ ổn định hơn và nhất là đồng bào có điều kiện thay đổi tập quán sản xuất và nâng cao dân trí.
Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Nông K'Beo nói với chúng tôi: Đồng bào dân tộc làm nông nghiệp nhiều đời nay mãi chưa giàu lên được. Chủ trương của Đảng và Chính phủ phát triển công nghiệp bauxite ở vùng Đắk Nông bà con rất mừng, vì việc đó sẽ giúp phát triển công nghiệp của tỉnh, phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, bà con có điều kiện thay đổi tập quán sản xuất, ổn định hơn về cuộc sống và nâng cao trình độ.
Nhóm phóng viên Cổng TTĐTCP
Nguồn: Cổng TTĐTCP