Để làm đúng kết luận Bộ Chính trị về bô-xít Tây Nguyên
Posted On Friday, May 8, 2009 at at 4:17 PM by Bô-xít Tây Nguyên
(TuanVietNam) - Đề xuất của nguyên ĐBQH, GS Nguyễn Ngọc Trân để triển khai đúng và tốt kết luận của Bộ Chính trị về khai thác bô xít Tây Nguyên.
Khoảng cách có thể có từ Kết luận đến triển khai tùy thuộc trước tiên vào trình độ và mức độ sẵn sàng tiếp nhận một cách đầy đủ và đúng đắn Kết luận của Bộ Chính trị.
Vấn đề khai thác bô-xít Tây Nguyên quá quan trọng về nhiều mặt, vì vậy dư luận xã hội hết sức quan tâm đến việc triển khai Kết luận của Bộ Chính trị [1] và sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ [2] là dễ hiểu và rất đáng mừng vì thể hiện ý thức làm chủ của nhân dân. Nhất thiết chúng ta phải triển khai đúng và tốt kết luận. Nhằm mục đích đó, bài viết này nêu lên một số việc cần làm.
1. Hơn cả trình độ là mức độ sẵn sàng tiếp nhận
Khoảng cách có thể có từ Kết luận đến triển khai tùy thuộc trước tiên vào trình độ và mức độ sẵn sàng tiếp nhận một cách đầy đủ và đúng đắn Kết luận của Bộ Chính trị.
Hiệu quả tổng hợp, tác động đến môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội, và an ninh quốc phòng là những vấn đề mang tính hệ thống và có liên quan chặt chẽ với nhau.
Trình độ hạn chế giới hạn việc tiếp thu, điều này đã hẵn. Nhưng mức độ sẵn sàng, một nhân tố chủ quan, nếu thấp sẽ là yếu tố hạn chế còn quan trọng hơn nhiều, nếu không nói là chính yếu [3]. Trong quá khứ, há chẳng phải vì nó thấp mà đã có không ít trường hợp ý kiến chỉ đạo đúng nhưng triển khai thì chập chờn, chiếu lệ, làm không đúng, thậm chí còn bị lái theo một hướng khác.
Thái độ không sẵn sàng có động cơ được che dấu rất tinh vi nhưng suy cho cùng, đó là vì tám chữ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư mà Bác Hồ luôn nhắc nhở cán bộ đảng viên, nhất là những người có chức có quyền ở các cấp các ngành, đã bị lãng quên.
2. “Nói không” với những hội nghị được dàn cảnh. Tăng cường phản biện và giám sát
Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với các Bộ và nhà đầu tư Tổng Công ty Than, Khoáng sản Việt Nam (TKV), chắc chắn sẽ có nhiều hội thảo để lấy ý kiến các chuyên gia, các hội nghị để thẩm định các báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo tác động môi trường ĐMC và ĐTM, các luận chứng kinh tế kỹ thuật, v.v. … Các cuộc họp này là cần thiết, nhưng với điều kiện chúng phải thực chất, phải có phản biện để đảm bảo tính khoa học và khách quan.
Tôi rất cảnh giác, vì đã chứng kiến không ít lần, với các hội nghị, hội thảo khoa học, nói là để lấy ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia, nhưng thực tế là những “hội nghị tung hô được dàn cảnh”, thậm chí còn được ban tổ chức gọi là “Diên Hồng”, cốt để ngụy trang những lỗ hổng khoa học, và chính thức hóa những kết luận đã được định trước. Với cách làm này, chúng ta sẽ được nghe rằng Kết luận của Bộ Chính trị và Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “đã được triển khai nghiêm túc” và mọi việc “đã được tính toán kỹ lưỡng”, “đã được các nhà khoa học nhất trí”, v.v. … nhưng về cơ bản là đi tiếp trên đường ray cũ!
Nhất thiết phải tăng cường phản biện và giám sát, như đã làm vừa qua, và phải thể chế hóa hai công tác này để sự việc không được diễn ra như vậy.
Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên thật sự là một thách thức lớn đối với nề nếp quản lý nhà nước hiện nay của chúng ta. 3. Nâng cao nhận thức và chất lượng trong phối hợp liên ngành, ngành - địa phương |
Trong công văn chỉ đạo của Thủ tướng có rất nhiều cụm từ phối hợp. Phối hợp đòi hỏi sự cộng tác trong việc thực hiện các nhiệm vụ có liên quan với nhau. Các nhiệm vụ lại phải tuân thủ thời gian hoàn thành theo một trình tự thời gian nhất định. Tuyệt nhiên phối hợp không phải là cách hành xử “nhắm mắt với nhau”, “nhắm mắt cho nhau” để “dĩ hòa vi quý”.
Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên thật sự là một thách thức lớn đối với nề nếp quản lý nhà nước hiện nay của chúng ta. Mong rằng các thiết chế nhà nước, Chính phủ và Quốc hội nói riêng, sẽ biết biến thách thức này thành thời cơ, nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực phối hợp của mình.
Vấn đề nước đã được nêu lên rất nhiều tại hội thảo ngày 09.04.2009, vì đây là một trong những điểm rất quan trọng nhưng lại rất yếu, của Dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên. Khai thác không tính toán kỹ có thể ảnh hưởng đến cả sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Thế nhưng Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ gì, phối hợp với nhau như thế nào trong vấn đề nước? Không có được một dòng nào! Tám tỉnh [4] cũng chỉ là các tỉnh có tài nguyên bô-xít và không được giao một nhiệm vụ nào về nguồn nước. Còn các tỉnh, thành phố khác nằm trong lưu vực sông Đồng Nai hoàn toàn không có trong danh sách.
Liệu vấn đề nước đã được nhận thức đúng mức chưa? Yêu cầu quản lý nước theo lưu vực sông, một ví dụ điển hình của sự phối hợp liên ngành, liên địa phương và ngành-địa phương, phải được thực hiện, không thể lần lữa nữa.
4. Chăm lo hơn nữa đến sự phát triển bền vững Tây Nguyên
Khoảnh khắc xúc động mạnh nhất đối với tôi trong ngày hội thảo ngày 09.04.2009, là lúc đồng chí lãnh đạo tỉnh Đắc Nông phát biểu và nói về tình cảnh nghèo khó của đồng bào và từ đó niềm vui khi nhận được một ngôi trường mới, và niềm hy vọng đặt vào dự án khai thác bô-xít Nhân Cơ.
Đúng là bà con còn quá nghèo và chúng ta còn nợ các dân tộc anh em Tây Nguyên quá nhiều, còn phải bù đắp nhiều hơn nữa các hy sinh lớn lao của đồng bào trong suốt hai cuộc kháng chiến. Nhưng cũng chính vì vậy mà tôi cho rằng sẽ là tội lỗi nếu ai đó, cho dù mới chỉ thoáng qua trong ý nghĩ, muốn bằng những món quà như thế, đánh đổi sự ủng hộ của đồng bào đối với một dự án chưa đủ cân nhắc, tính toán, có thể xáo trộn dữ dội cuộc sống của đồng bào và cả sự tồn tại về lâu dài của các dân tộc Tây Nguyên.
Từ 30 năm nay, chúng ta chưa tiếp tục Chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên [5], một công trình rất có ý nghĩa nhưng mới chỉ là khúc dạo đầu cho một chương trình nghiên cứu phát triển Tây Nguyên toàn diện. Chúng ta đã thừa kế và phát triển một số cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Chúng ta đã xây dựng mới một số khác. Liệt kê thì cũng không ít, nhưng điều kiện làm việc, kinh phí rất hạn chế, lãnh đạo chỉ đạo thì từ xa, nội dung phục vụ thiết thực kinh tế xã hội của vùng thì chưa nhiều [6].
Cái mà Tây Nguyên cần và là nền tảng, theo tôi, là một nguồn nhân lực được đào tạo và một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững và nhất là một sự quan tâm gắn bó ruột thịt nhiều hơn nữa.
- Gs. Tskh. Nguyễn Ngọc Trân
[1] Thông báo số 245- TB/TW của Bộ Chính trị ngày 24.04.2009.
[2] Triển khai Kết luận, ngày 29.4.2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có công văn số 650/TTg-KTN chỉ đạo cụ thể 9 Bộ, 8 địa phương và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).
[3] Ngạn ngữ có câu “Không ai khiếm thính bằng những người không muốn nghe, Không ai khiếm thị bằng những người không muốn thấy”.
[4] Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước, Bình Thuận, Cao Bằng, Lạng Sơn
[5] Chương trình khoa học cấp nhà nước này do Giáo sư Nguyễn Văn Chiển làm chủ nhiệm, đã được triển khai trong các năm 1975-1980.
[6] Sau 1975, chúng ta đã kế thừa Trường Đại học Đà Lạt, Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, Viện Pasteur Đà Lạt, (nay trở thành Công ty Vắc-xin Pasteur Đà Lạt). Chúng ta đã xây dựng Trường Đại học Tây Nguyên, Viện Nghiên cứu Cà-phê và môt số cơ sở nghiên cứu khoa học là chi nhánh hay trực thuộc các Viện ở Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh, hay đặt trụ sở tại Nha Trang.
Suy nghĩ từ kết luận về bô-xít Tây Nguyên
Posted On Tuesday, April 28, 2009 at at 11:45 AM by Bô-xít Tây Nguyên
(TuanVietNam)- "Như nhiều người, tôi cũng đã mong đợi Kết luận của Bộ Chính trị được đưa ra sớm hơn, bởi một lẽ dĩ nhiên ra sớm hơn sẽ tốt hơn. Nhưng điều chính yếu là các ý kiến phản biện đã được lắng nghe và nhờ vậy đã có những điều chỉnh quan trọng." - GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Đại biểu Quốc hội.
| Móng nhà máy tuyển quặng bauxite Tân Rai, Lâm Đồng. Ảnh: laodong.con.vn |
Ngày 24.04.2009, Bộ Chính trị đã ra thông báo (số 245- TB/TW) Kết luận của Bộ Chính trị về “Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025”.
Tiếp nhận Kết luận này như thế nào tùy thuộc vào mỗi người. Đối với tôi, Kết luận cho thấy Bộ Chính trị đã lắng nghe các ý kiến đã được phát biểu và nhiều ý kiến đã được tiếp thu. Bao trùm nhất là đã có một bước đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng.
1. Đối chiếu với những tham luận ngày 09.04.2009, tôi ghi nhận về quy hoạch và kế hoạch khai thác bô-xít, Bộ Chính trị đã lưu ý đến hiệu quả tổng thể, kinh tế và xã hội, tiết kiệm tài nguyên, thị trường (nhu cầu và sức cạnh tranh).
Nhiều vấn đề tác động đến môi trường từ khâu khai thác như chế biến, vận chuyển đến xử lý chất thải, lựa chọn công nghệ, quan tâm đến đời sống và giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, cũng đã được nhấn mạnh.
Nhiều vấn đề trước đây được xem là nhạy cảm cũng đã được nêu rõ trong Kết luận: việc sử dụng lao động nước ngoài phải đúng quy định của pháp luật, Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài.
Bộ Chính trị đã chỉ đạo phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, chế biến alumin, nhôm phải bảo đảm lợi ích trước mắt, lâu dài và bền vững của đất nước; có bước đi thích hợp, từ nhỏ đến lớn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Ban Cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và khu vực Tây Nguyên trong từng thời kỳ.
Tiếp tục thực hiện chủ trương triển khai hai dự án ở Tân Rai và Nhân Cơ, nhưng đối với dự án Nhân Cơ, Bộ Chính trị chỉ đạo “cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện”.
Bộ Chính trị yêu cầu “khẩn trương lập báo cáo môi trường chiến lược (ĐMC) và báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của từng dự án”. Một điều chỉnh quan trọng nữa so với trước đây là “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”.
2. Làm gì sau Kết luận của Bộ Chính trị? Theo thiển ý của tôi, giờ đây dư luận xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các nhà khoa học và đặc biệt là Quốc hội cần giám sát sát sao việc triển khai thực hiện đúng đắn Kết luận của Bộ Chính trị.
Trong các lĩnh vực lựa chọn công nghệ, tính toán cân bằng nước, mối quan hệ giữa nước mặt và nước ngầm tại Tây Nguyên và với các vùng lân cận, đặc biệt miền Đông Nam Bộ, xử lý chất thải bùn đỏ, bảo vệ đa dạng sinh học, quan trắc diễn biến môi trường… các nhà khoa học, các hiệp hội ngành nghề có rất nhiều việc để nghiên cứu và giám sát.
Thiết nghĩ, Bộ Chính trị và Thường trực Chính phủ nên sớm ban hành các cơ chế cần thiết, trong đó có cơ chế để có được thông tin.
3. Như nhiều người, tôi cũng đã mong đợi Kết luận của Bộ Chính trị được đưa ra sớm hơn, bởi một lẽ dĩ nhiên ra sớm hơn sẽ tốt hơn. Nhưng điều chính yếu là các ý kiến phản biện đã được lắng nghe và nhờ vậy đã có những điều chỉnh quan trọng.
Cũng không có gì là lạ, trong thời gian qua, bên cạnh những ý kiến phản biện tâm huyết và khoa học của các giới, đã có những phát biểu mang tính xuyên tạc của một số người muốn lợi dụng vấn đề bô-xít để kích động, chia rẽ dân tộc. Tuy nhiên những ý kiến lạc lõng này chỉ càng làm sáng hơn các phản biện xây dựng và khách quan.
Nhìn về tương lai, tôi tin chắc trí tuệ Việt Nam sẽ tìm ra các phương thức thích hợp để thực hiện đúng đắn cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
- GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
Khai thác bô xít Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị
Posted On Wednesday, April 8, 2009 at at 1:49 PM by Bô-xít Tây Nguyên
(TuanVietNam) - Trước thềm Hội thảo về khai thác bô xít Tây Nguyên ngày 9/4, nguyên ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường - xã hội của các dự án bô xít Tây Nguyên và kiến nghị lấy Tân Rai làm thí điểm.
Ảnh: reychem.com
Từ tháng 11/2008, sau khi dự án “Tổ hợp bô-xít-nhôm Lâm Đồng” tại Tân Rai được khởi công ngày 26/7/2008, và tiếp đó dự án “khai thác bô-xít sản xuất alumina Nhân Cơ” (Đắc-Nông) sẽ được khởi công trong quý I-2009, và những thông tin về dự kiến hợp tác đầu tư với nước ngoài khai thác bô-xít quy mô lớn ở Tây Nguyên kèm theo bao tiêu sản phẩm từ 2007 đến 2015 có xét đến 2025, có rất nhiều bài báo trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự lo ngại trước quyết định khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nhất là vào thời điểm hiện nay với sản phẩm sơ chế là alumina, đặt dấu hỏi về hiệu quả kinh tế, cảnh báo về công nghệ và hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.
Sau nhiều tháng chờ đợi, một cuộc hội thảo khoa học về khai thác quặng bô-xít để sản xuất alumina ở Tây Nguyên sẽ được tổ chức ngày mai, 9/4/2009 tại Hà Nội do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì với thành phần tham dự được mời gồm đại diện các Bộ ngành và các địa phương có liên quan, các nhà khoa học và hoạt động xã hội.
Dư luận mong rằng hội thảo sẽ là một sự phản biện được lắng nghe, một cuộc đối thoại xây dựng vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của vùng đất Tây Nguyên. Nhằm mục đích đó, bài viết này góp một số ý về ba nhóm vấn đề và đề xuất ba kiến nghị.
Trước tiên là về hiệu quả kinh tế. Tổng Công ty Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) chắc chắn đã có những tính toán của mình để thuyết minh là hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ có hiệu quả kinh tế tính cho suốt thời gian tồn tại của chúng, ước tính là 50 năm.
Vấn đề là các dự án này (và quy hoạch khai thác bô-xít nói chung) đã được tính toán trong thời gian mà nhu cầu nhôm, alumina của thế giới và khu vực đang lên cao, trong khi đó giá alumina trên thị trường thế giới hiện nay và trong thời gian trước mắt xuống rất thấp và chưa ai nói được là còn sẽ kéo dài bao lâu trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.
Vì vậy nhà đầu tư phải xem xét lại tính toán về hiệu quả kinh tế của các dự án hiện nay (và trong quy hoạch) phù hợp với tình hình mới không thuận lợi như lúc lập luận chứng ban đầu.
Chalco, một tập đoàn lớn hàng đầu về nhôm của Trung Quốc, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ đôla, trong năm 2009 vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. La Kiến Xuyên, chủ tịch mới của tập đoàn, thông báo ngày 30/3/2009 vừa qua [1], tập đoàn này "sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời".
Chắc TKV đã nhận được thông tin này và đã liên hệ đến mình và đến việc hợp tác đầu tư, để không vì khó khăn mà giãn tiến độ hoặc “treo” các dự án, và nhất là hạ thấp trình độ công nghệ, hy sinh hoặc “rút gọn” khâu xử lý chất thải bùn đỏ, thậm chí đổ bừa chất thải chưa xử lý ra môi trường như đã bắt gặp trong thời gian qua.
Trong quy hoạch khai thác bô-xít giai đoạn 2007-2015 có xét đến 2025, có việc đầu tư một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km với chênh lệch độ cao 700 mét, đi qua một vùng địa hình khá phức tạp, để đưa sản phẩm alumina từ Tây Nguyên về xuất khẩu tại cảng Kê Gà (Bình Thuận).
Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khá cao, phản ánh hiệu quả đầu tư thấp trong thời gian qua. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư phải là một mệnh lệnh rõ ràng, dứt khoát, nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện nay.
Thứ hai là về môi trường. Hiệu quả kinh tế là quan trọng, nhưng tác động lên môi trường còn quan trọng hơn nhiều, cho hôm nay và cho mai sau.
Theo TKV, do cấu trúc địa chất, bô-xit Tây Nguyên có diện phân bố rộng, thường ở trên sườn và đỉnh đồi, chiều dày các vỉa quặng trung bình 3-5m, nằm dưới lớp đất phủ với khoảng cách trung bình 0-2m.
Ảnh: reychem.com |
Viêc tận dụng các thung lũng như đã nói không an toàn chút nào bởi lẽ bùn đỏ chứa một dung dịch kiềm đi kèm có tính ăn mòn mạnh, có thể thẩm thấu gây tác hại cho đất xung quanh và làm ô nhiễm nguồn nước, và nhất là vào mùa mưa, khi lượng nước mưa lớn [3] tích tụ ở các hồ bùn đỏ có thể tràn ra ngoài hoặc làm vỡ đập.
Nói về nguồn nước cho sản xuất alumina tại hai nhà máy, TKV cho biết nhà thầu sẽ sử dụng 100% nước mặt, không sử dụng nguồn nước ngầm, bằng cách đắp đập tạo hồ chứa và một phần điều hoà nước từ các đập hồ thuỷ điện của vùng trong mùa khô.
Xin lưu ý TKV rằng nước trong các đập và hồ thủy điện đều đã được quy hoạch để sử dụng đa mục tiêu ở hạ lưu cho dân sinh, nông nghiệp, thủy sản, … vì ở đó cũng rất cần nước vào mùa kiệt!
Báo cáo của các nhà thầu bảo đảm rằng việc xử lý ô nhiễm, chất thải bùn đỏ, sẽ được làm triệt để nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, và với phương pháp khai thác theo trình tự cuốn chiếu, “công tác hoàn thổ, phục hồi không gian sẽ được hoàn nguyên ngay sau khi khai thác xong từng khu vực”.
Trong khi đó tỉ lệ dành cho việc xử lý chất thải, đặc biệt chất thải bùn đỏ, lại chỉ chiếm 5,4 – 5,6% tổng vốn đầu tư của nhà máy trong mỗi dự án.
Chính vì vậy và mặc dù việc xử lý chất thải bùn đỏ ở các nước được dẫn chứng như là an toàn (mà theo chúng tôi biết không hẳn là như vậy), chúng tôi vẫn cho rằng môi trường là một vấn đề chưa thể yên tâm [4].
Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện.
Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bôxit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.
Thứ ba là về vấn đề xã hội. Nhiều bài đã phân tích sâu về tác động đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm rằng vấn đề xã hội gắn với vấn đề môi trường và môi trường là một điều kiện quan trọng hàng đầu cho sự ổn định cuộc sống và cho sức khỏe của người dân trên địa bàn và các địa bàn lân cận.
Các báo cáo cho biết “tổng diện tích chiếm đất của toàn bộ dự án alumina Nhân Cơ khoảng 3.570 ha, trong đó phần mỏ khoảng 2.620 ha; các công trình đập, hồ chứa nước khoảng 500 ha; phần nhà máy sản xuất alumina khoảng 150 ha; các dự án tái định canh, định cư khoảng 300 ha”. Có thể khẳng định rằng tác động lên xã hội của dự án rộng hơn khoảng không gian này nhiều.
TKV cho biết con em của Lâm Đồng và Đắc Nông đã được gửi đi đào tạo để phục vụ hai nhà máy. Hoạt động của các nhà máy sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế khác. Kinh tế thuần nông lâm sẽ chuyển dần sang kinh tế đa ngành nghề. Thu ngân sách và thu nhập của của người dân của hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ tăng.
Nếu được như vậy thì rất tốt và đáng mừng. Thế nhưng Greg Zelder và Sebastian Africano, Giáo sư về Chủng tộc, Đói nghèo, và Môi trường Raquel R. Pinderhughes, Đại học Bang San Francisco đã chỉ ra rằng khai thác bô-xít hầu hết đã làm gia tăng đói nghèo cho người dân bản địa.
Yếu tố con người đã được xem trọng đúng mức chưa trong cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ?
Dự án Nhân Cơ chỉ cho con số 300 ha dành cho tái định canh, định cư. Nhưng số người tái định cư là bao nhiêu, họ là ai, cuộc sống vật chất và tinh thần của họ như thế nào, nguyện vọng của họ ra sao, … không thấy nói.
Công tác tái định cư của các công trình Sơn La, Dung Quất và xa hơn là Hòa Bình cho chúng ta nhiều bài học quý mà trước tiên là cần tiếp cận vấn đề xã hội sâu sắc hơn, nhân văn hơn, đậm đà tình dân tộc, nghĩa đồng bào hơn.
Ảnh: reychem.com |
Từ những ý kiến trên đây, xin đề xuất ba kiến nghị:
1. Nếu không thể dừng, lấy dự án Tân Rai làm dự án điểm. Tập trung chỉ đạo và yêu cầu tập đoàn thầu theo phương thức EPC thực hiện dự án đúng các cam kết, đặc biệt việc xử lý an toàn nhất chất thải bùn đỏ. Giám sát việc thực hiện. Làm cho tốt công tác tái định cư. Tổng kết kinh nghiệm.
2. Tập trung xây dựng cho xong dự án quy hoạch tổng thể khai thác bô-xit Tây Nguyên có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) song hành trước khi triển khai bất kỳ dự án nào mới.
3. Khi dự án quy hoạch hoàn thành, nếu một trong năm tiêu chí (tổng vốn đầu tư; tác động lên môi trường; số dân di dời tái định cư; đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa; đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định) chạm giới hạn cho phép thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đúng theo Nghị quyết 66/2006/QH11 của Quốc hội.
Khai thác bô-xit Tây Nguyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng về nhiều mặt, cần được tiến hành từng bước chắc chắn. Quặng vẫn nằm đó trong lòng đất và chờ đợi được khai thác với công nghệ sạch và tiên tiến, trong một quy hoạch chặt chẽ và toàn diện. Chỉ có như vậy nó mới góp phần vào sự phát triển đất nước một cách bền vững.
- Gs. Nguyễn Ngọc Trân
Khai thác bô - xít: Câu chuyện Ấn Độ và Haiti Câu chuyện Ấn Độ Năm 1998 công ty Norsk-Hydro của Na Uy đã tìm thấy bauxite ở bang Orissa. Vấn đề của công ty là 2100 gia đình ở 24 làng đã cản trở. Trong 32 triệu dân của bang Orissa, có bảy triệu thổ dân tập trung ở các vùng giàu quặng là các hạt Raigada, Koraput và Kalahandi nơi họ chiếm đến 80% dân cư. Chỉ riêng ở Orissa có gần 64 triệu ha đất trồng trọt và được chiếm giữ một thời, hiện đang được khai mỏ và ước tính có 50.000 người tị nạn môi trường. Dân bộ tộc và thổ dân ở Ấn Độ chỉ chiếm 8% dân số nhưng lại chiếm đến hơn 40% dân bị di dời. Ở Ấn Độ các bộ lạc, chứ không phải chính phủ, kiểm soát đất bộ lạc. Điều này có nghĩa là các bộ lạc phải quyết định liệu các công ty khai khoáng có thể được phép khai mỏ hay không. Một nhóm môi trường trong vùng đã tổ chức một cuộc điều tra cho thấy 96% dân cư trong hạt chống lại dự án bauxite. Cảnh sát vùng đã dùng vũ khí chống lại người dân địa phương, hiển nhiên cảnh sát hoạt động vì lợi ích của công ty, và đã bắt hầu hết các chủ đất ít nhất một lần và ép buộc họ ký bán đất cho công ty. Tháng 12/ 2000 đã có các cuộc bạo loạn chống lại công ty và các kế hoạch của họ để khai khoáng ở trong vùng, trong đó cảnh sát đã giết chết 2 người. Các tổ chức nhân quyền tin rằng Norsk-Hydro đã đồng loã trong việc giết người bởi vì cảnh sát đã ép dân địa phương ký bán đất, cơ bản họ đã trở thành tổ chức đánh thuê không chính thức của công ty. Nếu công ty đồng loã, nó vi phạm các nguyên tắc một và hai của Hiệp ước Toàn cầu (Global Compact) của Liên Hiệp Quốc. Nguyên tắc một của Hiệp ước nói rằng các công ty đồng ý “hỗ trợ và tôn trọng sự bảo vệ các quyền con người quốc tế trong phạm vi ảnh hưởng của họ”. Những cáo buộc này chỉ ra vấn đề lớn hơn về các công ty xuyên quốc gia lớn tương tác ra sao với dân địa phương trong đòi hỏi của chúng đối với nguồn lực tự nhiên và nguyên liệu. Bởi vì sự sao nhãng nhận thức này, các nhà đầu tư nước ngoài coi tình hình như tình huống do nghĩa vụ của họ đối với nền kinh tế toàn cầu (chẳng nhắc tới ví tiền của họ) mà họ khai thác các vùng này. Câu chuyện Haiti Hợp đồng cho Reynolds “độc quyền ưu tiên tiến hành thăm dò và khai thác quặng bauxite và tất cả các quặng khác chứa hay có thể chứa nhôm,” với hầu như toàn bộ diện tích Haiti được quy định. Yếu tố chính ở đằng sau sự chấp nhận các điều kiện này là sự thực rằng chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho đàm phán của Reynolds vì 2 lý do chủ yếu: Cầu về nhôm đã tăng do Chiến tranh Thế giới II và, khi đó, chính phủ Mỹ đã thử phá thế độc quyền của Alcoa trong công nghiệp nhôm. Hợp đồng có hứa về việc làm (cho dù công ty chỉ thuê công nhân không có kỹ năng và không có hứa hẹn gì về đào tạo các vị trí quản lý hay hành chính). Haiti cũng nhận được một khoản royalty (tiền thuê mỏ) gắn với sản xuất bauxite – khi đó royalty là 30,5 cent/tấn. Năm 1963 hợp đồng được đàm phán lại và royalty thực sự bị giảm xuống 20 cent/tấn! Chính phủ cũng đã tin rằng công ty sẽ thêm vào cho cơ sở hạ tầng của đất nước. Tất cả cái mà đất nước nhận được dưới dạng hạ tầng là một đoạn đường dài 8 dặm chỉ để chuyên chở alumina đã tinh luyện sang Hoa Kỳ - đường này ít có tác động đến toàn nền kinh tế. Công ty cũng đã xây 1 nhà máy điện, cơ sở hạ tầng nước, và 1 bệnh viện chỉ để công ty và nhân viên của nó sử dụng. Cùng với những “giám sát” này của chính phủ, đối với dân chúng cái lớn nhất mà chính phủ đã làm, là đi thoả thuận giúp ngăn chặn đình công, tạo ra một liên minh gây rối loạn để chặn ngay cả các hình thức sơ đẳng nhất của sự trao quyền cho lao động. Cần lưu ý rằng số lao động do Reynolds sử dụng là nhỏ (khoảng 0,5%) so với phần còn lại của lực lượng lao động 45.000 người. Loại thảo thuận này củng cố khái niệm về đồng loã xảy ra với cách cư xử của chính phủ, đặc biệt các chính phủ ở các nước đang phát triển, phụ thuộc vào công nghiệp hoá, và các công ty xuyên quốc gia không có trách nhiệm giải trình nào đối với công dân của các nước nơi chúng khai thác tài nguyên của họ. |
[1] Theo Wall Street Journal ngày 29.3.2009 và BBC ngày 30.3.2009.
[2] Cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều chọn phương pháp thải ướt bơm bùn đỏ lõng ra bãi thải vì “đỡ tốn kém hơn phương pháp thải khô, và thích hợp với các vùng có các thung lũng dễ tạo thành hồ chứa”.
[3] Lượng mưa trung bình nhiều năm ở Tây Nguyên là từ 2000 -2500 mm/năm, tập trung trong 3 đến 4 tháng.
[4] Tôi đã gửi đến Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tài liệu “Bauxite and Aluminium: From A to Z”, của các tác giả Greg Zelder, Sebastian African, Raquel R. Pinderhughes, State University at San Fransisco, California, 2003, trong đó có phần trình bày các tác hại đến môi trường và xã hội, với các dẫn chứng ở Ấn Độ và Haiti.