Showing posts with label ý kiến phản đối. Show all posts
Showing posts with label ý kiến phản đối. Show all posts

Khai thác Bauxite Tây Nguyên: "Căn bệnh Hà Lan" hay là "lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên"

BXTN:- Những người ủng hộ việc khai thác bô-xít Tây Nguyên thường lặp đi lặp lại luận điểm: Tài nguyên bô-xít của chúng ta nhiều thì ta phải khai thác để làm giàu cho dân cho nước, etc. Bài phân tích dưới đây với các dẫn chứng nghiên cứu và minh họa thực tiễn để chỉ rõ rằng luận điểm của phía ủng hộ dự án là cảm tính và thiếu khoa học. Một đơn cử dễ thấy là Nam Phi - nước giàu tài nguyên kim cương bậc nhất thế giới là đất nước mà người dân chưa bao giờ được hưởng lợi từ kim cương, Guinea - nước khai thác bô-xít lớn thứ hai trên thế giới nhưng lại cũng thuộc những nước nghèo nhất thế giới.


Phạm Minh Ngọc

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (Hồ Chí Minh)

Từ khá lâu rồi, chính xác là từ những năm 60 của thế kỉ trước các nhà khoa học đã nhận thấy hậu quả nghiêm trọng về chính trị và kinh tế mà các nước giàu tài nguyên thiên nhiên có thể gặp. Họ gọi đấy là “căn bệnh Hà Lan” hay là “lời nguyền rủa của tài nguyên” để mô tả quá trình suy sụp của ngành công nghiệp, hậu quả của những khoản thu nhập to lớn bất thình lình đổ về từ việc xuất khẩu nguyên liệu, nhiên liệu thô, tức là xuất khẩu những nguồn tài nguyên không thể tái sinh được. Thomas L. Friedman viết: “Tại những nước bị “bệnh Hà Lan” đồng nội tệ tự nhiên tăng giá đột ngột vì nguồn ngoại tệ chảy vào từ việc bán dầu hoả, vàng, khí đốt, kim cương hay các nguồn nguyên liệu khác. Kết quả là: hàng công nghiệp xuất khẩu không còn khả năng cạnh tranh còn hàng nhập khẩu thì xuống giá trông thấy. Người dân rủng rỉnh tiền trong túi, bắt đầu đổ xô đi mua hàng nhập khẩu, nền công nghiệp trong nước chết yếu - đấy chính là quá trình suy sụp của nền công nghiệp. Thuật ngữ “lời nguyền rủa của tài nguyên” cũng ám chỉ quá trình này, cũng nói về sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến đời sống chính trị của đất nước, ảnh hưởng đến những ưu tiên về đầu tư và ưu tiên trong lĩnh vực giáo dục. Vấn đề lúc đó sẽ là: Ai có quyền vặn “van dầu” và ai được chia bao nhiêu phần của cái bánh chứ không phải là làm thế nào bảo đảm được khả năng cạnh tranh hữu hiệu, sáng kiến và sản xuất ra hàng hoá thực cho nhu cầu tiêu dùng thực nữa”.

Hơn thế nữa, Michael L. Ross, nhà chính trị học của đại học California (Los Angeles), sau khi nghiên cứu số liệu thống kê của 113 nước trong giai đoạn từ 1971 đến 1997, đã rút ra kết luận: “Nói chung, quá chú ý đến việc xuất khẩu dầu mỏ và các khoáng sản khác là một trở ngại đối với tiến trình dân chủ hoá đất nước nhưng việc xuất khẩu các hàng hoá khác lại không có hiệu ứng như thế; hiện tượng này được tìm thấy không chỉ ở bán đảo Arab, Trung Đông và phía Nam sa mạc Sahara mà còn xảy ra ở cả các nước nhỏ nữa”.

Đấy chính là qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ do Thomas L. Friedman nêu ra: “Mức độ tự do của các quốc gia dầu mỏ tỉ lệ nghịch với giá dầu. Theo qui luật thứ nhất của nền chính trị dựa trên dầu mỏ thì giá dầu trung bình thế giới càng cao, tự do ngôn luận, tự do báo chí, các thiết chế về bầu cử tự do và trung thực, tinh thần thượng tôn pháp luật, sự độc lập của toà án và các đảng phái chính trị càng mờ nhạt”.

Nhưng thế chưa phải là hết, bằng vào kinh nghiệm của nước Nga, Yury Afanasiev, nhà sử học lỗi lạc, người sáng lập Trường đại học nhân văn quốc gia Nga, còn viết: “Một khi nhà nước tập trung chú ý vào nguyên liệu thô chứ không phải vào sản phẩm thì nó cũng không cần đến dân chúng nữa. Nếu đất nước có ‘đường ống dẫn’ và ‘vàng đen’ thì dân chúng trở thành gánh nặng và mối đe doạ tiềm tàng. Chế độ cho rằng lúc nào nó cũng có thể mua chuộc được dân chúng. Nó không có nhu cầu thiết lập mối quan hệ với dân chúng thông qua các định chế thông thường của một xã hội dân chủ phát triển cao”.

Tức là, khác hẳn với những nước biết mình nghèo, biết mình không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, muốn phát triển thì phải khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ở những nước đó, nước muốn mạnh thì dân phải giàu. Còn chính phủ của các nước giàu tài nguyên thiên nhiên thì không cần như thế, chỉ cần bán tài nguyên thiên nhiên là họ có đủ tiền để bảo đảm nuôi sống bộ máy quan liêu của mình và tiếp tục giữ mãi nhân dân trong cảnh sống phi dân chủ, nhẫn nhục và tăm tối. Đấy chính là lời nguyền rủa cay độc nhất của tài nguyên thiên nhiên. Chẳng cần phải là người thông thái cũng có thể nhận ra chuyện đó. Chỉ cần nhìn vào những nước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan, một bên và bên kia là những nước kia như Iran, Iraq thì sẽ rõ.

Đấy là những câu chuyện ở xa và đã có từ lâu. Còn đây là câu chuyện gần và mới, ông Thứ trưởng Lê Dương Quang, trong một buổi trả lời phỏng vấn đối với phóng viên của Cổng Chính phủ online, ông cho rằng chúng ta (Việt Nam) phải tìm mọi cách khai thác hết tiềm năng bauxite ở Tây Nguyên. Ngoài ra, trong khi tiếp xúc với cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (09/05/2009), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Tài nguyên nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bauxite lớn thứ ba thế giới, riêng ở Tây Nguyên trên 5 tỷ tấn và sẽ “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bauxite trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước”. Lời của ông Thứ trưởng và tái khẳng định của ông Thủ tướng, cũng là lời của một người sang, tức là lời ‘có gang có thép’, nhất định phải trở thành hiện thực. Và như thế, “căn bệnh Hà Lan” hay “lời nguyền rủa của tài nguyên” có lẽ sẽ trở thành sự thật nhãn tiền trên đất nước này.

Nhưng lần này “lời nguyền” còn cay độc hơn bội phần, bởi vì khai thác dầu khí hay vàng không tạo ra hàng triệu tấn bùn đỏ nguy hại, không tạo ra nguy cơ ô nhiễm những nguồn nước cung cấp cho hàng triệu người dân sống phía dưới hạ lưu, không đe doạ huỷ diệt môi trường văn hoá và môi trường sống của hàng triệu cư dân bản địa. Và nhất là không diễn ra ở những vùng chiến lược xung yếu của quốc gia… Thiết nghĩ kể thêm nữa cũng bằng thừa, các nhà khoa học cùng với những người hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và quân sự đã nói quá đủ rồi.

La Thành đã viết rất đúng rằng: “Bauxite Tây Nguyên hoàn toàn có thể là điểm khởi đầu cho một sự tan rã, không chỉ ở mức thể chế chính trị mà ở tầm quốc gia - dân tộc”. Chỉ xin được bổ sung thêm: Nếu hồn thiêng sông núi cùng với thể phách của các bậc tiền nhân và những lời can gián trung thực, đấy khí phách và kiến thức của những người đang sống không buộc được những kẻ tham lam và ngu xuẩn phải ngừng ngay dự định bán tống bán tháo tài nguyên quốc gia, không bảo vệ được vùng Tây Nguyên xanh, một trong những tài sản quí giá nhất mà cha ông đã để lại cho chúng ta thì quá trình Somali-hoá cái đất nước có hình chữ S tươi đẹp này là việc hoàn toàn có thể xảy ra. Đấy chính là lời nguyền rủa tối hậu đối với tất cả chúng ta. Vì đấy là “lời nguyền rủa mang tên Tây Nguyên”.

Thoáng nhớ lại đâu đó câu thành ngữ " Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt"!

ĐN Mạng Bauxite hiệu đính


Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090516_loinguyentaynguyen.htm

-->đọc tiếp...

Về dự án khai thác bauxite Tây nguyên: Thời gian là quan tòa của trời, đất

Nhân dân và lịch sử rất công bằng

Vào giữa thập niên 1980 của thế kỷ trước (1984-1986), sinh thời, có lần Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng đến Nha Trang. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp và hỏi ông: “Thưa thầy, hiện tình đất nước thế này, liệu người ta có ghi vào sử sách để lại cho đời sau biết không ạ!”. Sau giây lát trầm ngâm, GS. Trần Quốc Vượng bảo rằng: “Các cậu cứ yên tâm, nếu sử chính thống không ghi, thì vẫn còn có sử dân gian. Nhiều người viết sử dân gian, hàng ngày vẫn âm thầm ghi chép đấy!”. Thì ra là vậy. Thảo nào có bao nhiêu là chuyện thâm cung, bí sử của đời này, đời kia, triều đại này, triều đại khác vẫn được người đời truyền tụng. Tôi liền thể hiện cái ý đó của GS. Trần Quốc Vượng trong mấy vần thơ:

Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng, năm này

Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước

Tại sao Chu Văn An phải dâng sớ chém bảy gian thần?

Tại sao ba tộc nhà Ức Trai mắc họa?

Sự thật?

Sự thật có khi không được ghi trong sử

Nhưng lại được nhân dân chuyên chở đến muôn đời

Con cháu sẽ hỏi ta về những tháng năm này

Như ta từng hỏi cha, ông về những ngày thủa trước… [1]

Vâng! Với sử dân gian thì không thể ém nhẹm, giấu giếm, đổ vấy trách nhiệm cho người khác được. Chỉ những kẻ mất trí, hoặc vô học, ngu xuẩn mới không biết sợ sự phán xét của hậu thế. Trong kho tàng văn hóa dân gian, để răn dạy con cháu biết sống làm người tử tế, không để lại tiếng xấu cho đời sau, cha ông ta không cần nhiều lời, không cần phải tràng giang đại hải bằng tuyển tập này, toàn tập nọ, chỉ vẻn vẹn mấy chữ thôi, mà hàm ý thật thâm hậu, sâu sắc như: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”, hoặc Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, v.v. Còn “bia miệng” trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, thì quả là công hiệu và đắc dụng vô cùng. Mọi chuyện tốt, xấu ở bất cứ đâu, từ tổng thống đến dân đen nếu mù quáng làm bậy đều được ghi chép và lập tức siêu tốc ngay trên mạng thông tin quốc tế, bất chấp thời gian, bất chấp không gian, tồn lưu vĩnh cửu. Thì, hỡi ôi! Dù các bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, như Hít-le, như … từng trùm sự sợ hãi lên cả một đất nước, cả một dân tộc, có tái thế, cũng đừng hòng bịt miệng nổi trăm họ và càng không thể lòe bịp, mị dân, đốt sách và chôn sống trí thức được nữa.

Xưa nay, ở mọi thời, người có văn hóa (xin được lưu ý, có học vị, bằng cấp cao chưa hẳn là văn hóa đã cao) dù bất kỳ làm nghề gì, ở cương vị nào, quan lại hay dân thường, đều lấy sự phán xét của các thế hệ mai sau làm điều phải sợ, mà tích đức, tu nhân. Dân thường thì mong được để tiếng thơm trong gia phả tộc họ. Bậc quân vương thì muốn được lưu danh ngời sáng trong sử sách, chứ không phải là thứ hôn quân, bạo chúa bị hậu thế đời đời nguyền rủa. Còn người cầm bút muốn không bị người đời và đồng nghiệp các thế hệ kế tiếp coi khinh, thì phải tránh xa thứ nhân cách bồi bút, nịnh hót, xun xoe, cơ hội, láu cá, tô hồng… Để trước khi về với cát bụi, không phải lội ngược dòng đi tìm cái “tôi” đã mất. Để khi sức đã tàn, lực đã kiệt, bút đã gỉ, mực đã khô rồi, nhìn lại đống tác phẩm suốt một đời cầm bút, không phải cay đắng nhận ra rằng, toàn những thứ vô bổ, không lấy được “bụm” nào, chỉ đáng vứt sọt rác…

Vâng! Quả là đáng sợ lắm cái sự “hùm chết để da …”, đáng sợ lắm cái sự “trăm năm bia đá thì mòn …”. Chuyện kể rằng, có nhà văn nọ, cũng thuộc hàng “đại thụ” của giới văn chương nước nhà, được tác giả Chân dung nhà văn “mó” tới. Khi lâm trọng bệnh, biết không qua khỏi, thấy Xuân Sách đến thăm, ông rất mừng. Sau một hồi đắn đo, ông mới nói “Cậu viết như vậy cũng được thôi, nhưng “tha” cho mình mấy chữ được không?”. Trong hoàn cảnh ấy, tác giả Chân dung nhà văn rất bối rối, đến bên ông: “Thưa anh, muộn mất rồi, sách đã phát hành hết, làm sao mà sửa được…”. Thế đấy, chỉ mấy chữ liên quan đến đời người, đời văn thôi, mà trước lúc về với tổ tiên, nhà văn đáng kính nọ còn áy náy, day dứt, biết sợ. Huống chi là những văn bản vài ba trăm chữ liên quan, thậm chí làm mất cả một phần chủ quyền lãnh thổ, hoặc dày hàng vạn chữ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quốc kế dân sinh, đến vấn đề sinh tử của đất nước và còn hệ lụy đến cả muôn đời con cháu mai sau?

Chuyện cũng kể rằng, có một dòng họ, suốt mấy trăm năm, đời này truyền đời khác kiên trì kêu oan, quyết rửa bằng được một vết nhơ mang tội giết vua cho bậc tiền nhân của họ, là một đại công thần dưới triều đình xưa.

Vâng! Nếu thời gian là quan tòa rất vô tư của trời đất, phán quyết việc đúng sai, thì NHÂN DÂN và LỊCH SỬ bao giờ cũng công bằng với tất cả. Một Trần Thủ Độ có công sáng lập triều Trần, thay thế triều Lý đã đến thời mục ruỗng, thối nát, nhưng cái cách ông đối xử với con, cháu triều đại cũ thì không được nhân dân chấp nhận. Và, dù có công to, ông vẫn không được nhân dân lập đền thờ cũng là điều dễ hiểu. Nhưng với một khai quốc đại công thần Ức Trai uyên bác, chứa chan lòng yêu nước thương dân, dù oan khuất dậy trời xanh, thì vẫn được nhân dân đời đời thờ phụng.

Trở lại với các dự án khai thác bauxite ở Tây nguyên hiện nay và dòng sử dân gian, như ý của cố GS. Trần Quốc Vượng. Phải khẳng định ngay rằng, việc đúng sai đã quá rõ rồi. Mọi việc còn lại là của người chép sử và quyết định cuối cùng là của nhân dân với người đại diện cho mình là Quốc hội. Xin có vài lời bày tỏ:

Sử dân gian sẽ chép rằng: Vì đại sự Quốc gia, cái ý tưởng khai thác bauxite ở Tây nguyên đã phải “chết” từ gần 30 năm trước. Sau cũng ngần ấy năm, vùng cao nguyên hùng vĩ, với không gian văn hóa cồng chiêng rất đáng tự hào này, đã đưa nước ta trở thành một trong những “cường quốc” xuất khẩu cà phê của thế giới. Nhưng cái từ bauxite này lại bắt đầu “sống” lại vào ngày 3/12/2001 với chữ ký của ông Tổng Bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh, trong bản Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, nhân chuyến ông Nông Đức Mạnh thăm Bắc Kinh. Tiếp đến là sự nhất trí cao, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, của lãnh đạo Đảng và nhà nước. Cụ thể là phát biểu của các ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày, tháng, năm tại …; ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ngày, tháng, năm, tại …; ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trả lời cử tri thủ đô ngày, tháng, năm, tại …; của ông Bộ trưởng Bộ Công thương, của ông … của ông … và của ông … vân vân.

Sử dân gian cũng ghi rõ: Báo chí trong nước với lực lượng hùng hậu ngót một ngàn tờ báo và tạp chí các kiểu, cùng đội ngũ người cầm bút đông vào hàng nhất nhì thế giới, thì hầu như im thin thít, ngoài một vài bài lẻ tẻ trên báo điện tử được cấp phép và trên vài trang Blog cá nhân. Còn các tờ báo mạng khác của Việt kiều ở nước ngoài thì phản ứng quyết liệt, với nhiều bài phân tích có tính khoa học cao, đầy trách nhiệm của các học giả trong và ngoài nước.

Sử dân gian cũng ghi những trang rất đậm dành cho trí thức Việt Nam, bộ phận ưu tú nhất của cộng đồng, rằng: Tuy có một bài báo mạng với cái tít rất khó chịu“Trí thức Việt Nam, đứa con hoang mất nết của dân tộc”, nhưng một số nhà khoa học hàng đầu trong nước, chỉ một thời gian ngắn đã kịp thời tập hợp được lực lượng đông đảo những nhà khoa học tên tuổi, đầy uy tín, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, những nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn, nhà giáo … giàu tâm huyết và trách nhiệm với dân, với nước cùng ký tên trong bản kiến nghị chung gửi giới lãnh đạo cao nhất, đề nghị dừng ngay các dự án khai thác bauxite, để trừ mối đại họa lâu dài cho đất nước, vân vân và vân vân.

Còn với Quốc hội, thì sử dân gian sẽ chép rằng: Theo Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất trong hệ thống công quyền, là đại diện cho quyền lực của Nhân dân. Dù là Quốc hội nào, độc đảng hay đa đảng, đều phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về những phán quyết của mình. Nếu thực sự là đại diện tối cao của nhân dân, Quốc hội khóa 12 phải có những phán quyết ở tầm trí tuệ cao về các dự án khai thác bauxite này. Mặc dù ông Nguyễn Phú Trọng trả lời với cử tri thủ đô như vậy, nhưng đó chỉ là ý kiến cá nhân. Ông ta cũng chỉ được bỏ một lá phiếu. Tuy nhiên … và … nhưng … (phần này sử dân gian còn để giấy trắng, vì phải chờ diễn biến thực tế về vấn đề bauxite tại các kỳ họp sắp tới của Quốc hội). Khi ấy, vị dân biểu nào nói gì, nói ra sao, có tâm huyết, trách nhiệm với lịch sử, với đất nước, với nhân dân đến mức nào, sẽ được sử dân gian ghi chép rất chi tiết, đầy đủ, thậm chí chụp cả ảnh, ghi thành phim … để lưu truyền cho hậu thế.

Cuối cùng, người viết bài này chỉ xin được nhấn mạnh một điều mà chắc chắn quý vị đang nắm trọng trách của đất nước hiện thời, như các ông: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, cùng quý vị khác trong Bộ Chính trị… đều phải thừa nhận rằng: THỜI GIAN LÀ QUAN TÒA CỦA TRỜI, ĐẤT. NHÂN DÂN và LỊCH SỬ RẤT CÔNG BẰNG.

Nguyễn Chính

nchinhvn@yahoo.com

HD Mạng Bauxite Việt Nam biên tập


[1] Bài thơ này đã đăng trên tạp chí Văn nghệ Nha Trang năm 1987, vào lúc mà người ta hay nói đến việc văn nghệ được “cởi trói”.


Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/bandoc/090515_thoigianlaquantoa.htm

-->đọc tiếp...

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản)

BXTN:- Bài trả lời phỏng vấn của GS. Nguyễn Huệ Chi được đăng tạm thời qua trang talawas do trang bauxitevietnam đang tạm thời có trục trặc kỹ thuật.


1. Tai sao ong phan doi du an khai thac bo-xit tai Tay Nguyen?

Không phải chỉ riêng tôi mà bất kỳ người Việt có lương tri nào cũng phản đối, vì đây là một dự án chưa thấy đem lại lợi ích gì cho đất nước mà nguy cơ tàn phá môi trường, tiêu diệt hệ sinh thái phong phú, và để lại những hậu quả nghiêm trọng về nguồn nước độc hại cho không chỉ riêng Tây Nguyên mà cả một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam Việt Nam, và không phải chỉ trong dăm mười năm mà trong ba bốn mươi năm hoặc lâu hơn thế, thì đã rành rành ra đấy. Đáng nói hơn nữa là nó đảo lộn đời sống của đồng bào người Thượng, thêm nhiều tập quán văn hóa lâu đời của nhiều tộc người Tây Nguyên rồi sẽ bị xóa bỏ. Sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu người các dân tộc ở đây không còn không gian truyền thống để sinh hoạt và không còn duy trì được bản sắc văn hóa của mình? Anh tôi, nhà dân tộc học Từ Chi trước đây gần 20 năm đã cảnh báo việc đưa người Kinh lên thâm nhập Tây Nguyên, sẽ làm biến chất cái làng cổ truyền Tây Nguyên qua việc “tập thể hóa” đất đai du canh của họ, đẩy người bản địa vào tận chân núi, lại “soán” luôn Ông “Giàng” (Yang) mà họ thờ phụng hàng bao nhiêu đời, thay vào đấy bằng một thứ chủ nghĩa vô thần cực đoan kỳ cục mà đến bây giờ người Kinh, ngay cả những vị quan chức cấp tối cao, tôi mạnh dạn mà nói thế, cũng không sao “đeo đẳng” mãi được nữa! Một tình trạng đến thế mà còn kéo dài thì nhất định trước sau sẽ xảy ra “sự cố”. Rất tiếc, điều anh tôi cảnh báo đã bị các nhà chính trị bỏ ngoài tai và như ta thấy, cách đây một số năm đã được chứng thực tại Tây Nguyên. Nay, người ta lại đang làm một chuyện tàn phá mới đối với Tây Nguyên mà vẫn tuyệt nhiên không chịu rút ra bài học không xa, có gốc gác là sự thiếu hiểu biết và thiếu thật lòng tôn trọng văn hóa Tây Nguyên. Họ chỉ biết có cái lợi thiển cận mà cái lợi ấy cũng rất mơ hồ, và nếu dùng công thức 50/50 như lời ông Đoàn Văn Kiển Tập đoàn Than khoáng sản thì còn là vô trách nhiệm! Đem đất nước và dân tộc ra mà thử nghiệm mà về kinh tế chỉ có thể trông mong hòa trong khi về tất cả các mặt khác lại không hòa mà thua trắng, chỉ có đám “đỏ đen” chứ có ai trung thực và yêu nước mà lại chịu đựng nổi lối tư duy cờ bạc đó? Cái hậu họa dứt khoát sẽ đến ngay nhãn tiền. Vì nghĩ thế, tôi và một số anh em tâm huyết đã phản đối dự án này.

2. Mot so nguoi cho rang su hien dien cua TQ tai Tay Nguyen chinh la nguyen nhan de ho phan doi du an nay. Theo y kien ca nhan ong, tai sao ho lai coi do la mot su de doa?

Câu hỏi này không rõ. “Họ” mà quý báo nói đây là ai? Nếu là đại đa số nhân dân Việt Nam thì xin quý báo điều tra thêm trong thực tiễn. Còn nếu là những người trí thức và công dân ký tên trong “Kiến nghị” thì nội dung “Kiến nghị” đã nói cụ thể; chúng tôi lo ngại ở 4 điểm:

1. Việc lập dự án khai thác bauxite mới được công khai hóa từ cuối năm 2008 nhưng trên thực tế lại đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó mà chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Nghĩa là đối với chúng tôi, việc ký với ai cũng là quan trọng nhưng còn không kém quan trọng là nó có được tiến hành hợp pháp hay không. Tại sao lại có chuyện như vậy ở một đất nước từ lâu đã có Hiến pháp và gần đây còn ban hành hàng loạt bộ luật được Quốc hội thông qua? Đó là điều không thể lý giải. Một việc làm không hợp pháp được nhắm mắt làm ngơ thì bao nhiêu việc nữa sẽ khiến cho việc điều hành đất nước này trở nên lộn xộn, không minh bạch, xa lạ với quỹ đạo phát triển như mọi nước đã và đang đi[1] (Mới đây, ngày 4-5-2009, trả lời đông đảo cử tri Hà Nội yêu cầu đưa vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội phê chuẩn và giám sát “như ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có nói: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Ông còn nói thêm: “Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu” (xem: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/845582/). Trong khi đó thì mạng truyền thông Trung Quốc lại xác nhận các công ty của họ đã đổ vào Tây Nguyên những khoản tiền hết sức lớn, và họ đã bắt đầu thi công từng phần của dự án chứ không phải là “chưa ra đâu vào đâu” như ông Trọng nói (xem: http://www.youyiguan.com/bbs/viewthread.php?tid=20527). Mặt khác, tuy chia ra từng dự án thì quy mô ở Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ thật nhưng xét tổng thể cả quy hoạch bauxite Tây Nguyên hẳn phải nói là rất lớn! Báo “Du lịch” ngày 13-4-2009 đăng bài của một phóng viên lên điều tra tận nơi cho biết: “Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”. Cớ sao ta không trình Quốc hội trên Dự án tổng thể khai thác bauxite ở toàn vùng Tây Nguyên mà lại chia nhỏ ra từng dự án con để phán xét quy mô của mỗi cái là nhỏ? Hơn nữa, trong 5 tiêu chí của một dự án “cần phải đưa trình Quốc hội xét duyệt” theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29-6-2006 thì có tiêu chí thứ 4 ghi rõ “Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh”; Tây Nguyên ai cũng đều biết là “mái nhà Đông Dương” mà không đáng xếp vào tiêu chí thứ 4 sao? Hãy nghe Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: “Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (Cao nguyên) Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” (trích “Thư gửi BCT ĐCSVN và TT CPVN”). Cũng chính Kết luận số 245-TB/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN do Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang thông báo ngày 24-4-2009 có nói rõ: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Kết luận ấy chứng tỏ Bộ Chính trị biết vị thế Tây Nguyên trọng yếu như thế nào.

Tôi không phải là người có thói quen thích theo dõi nhân sự của một đảng cầm quyền, cũng không thích nghe lời bàn tán xầm xì của dư luận, chỉ biết làm chuyên môn và tôn trọng những ai là đại diện cho quyền lực của đất nước, nhưng trước việc này cũng không khỏi băn khoăn: hình như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chính là một Ủy viên trong Bộ Chính trị Đảng CS thì phải. Sao ông lại trả lời cử tri của mình lạ vậy? Người ta có cảm tưởng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đang… cãi lại Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, hay cũng có thể luận giải theo một hướng khác, rằng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng muốn “giải thích lại” thực chất ý nghĩ của Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng. Mong sao đó đều là những cảm giác nhầm lẫn (Được biết thêm chiều hôm qua, 14-4-2009, trong lời kết luận phiên họp của UBTVQH, ông Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu Quốc hội”. Có thế chứ. Xin ghi nhận chuyển biến đó và hãy cứ chờ đợi, lắng nghe ý kiến của các vị. Tuy nhiên, nếu Quốc hội chỉ nghe mà không thảo luậnbiểu quyết thì thưa ông Trọng, đó chẳng phải là điều người dân mong đợi).

Còn ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì phải nói là càng lạ nữa. Trong buổi sáng 7-5-2009 đến thăm sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trước lời khuyên thẳng thắn của Đại tướng về việc nên dừng dự án bauxite, ông nói gọn ghẽ: “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”, các báo mừng rỡ loan tin, vậy mà cách một hôm sau, tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông lại đã dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn!? Ô hay, chỉ mới qua một ngày một đêm thôi, mà cả một Chính phủ chứ có phải cá nhân ông đâu, đã “tiếp thu và nghiên cứu” xong ý kiến của vị Đại tướng nhanh thế a? Thế thì con ông và cháu ông sẽ hiểu vấn đề đạo lýlễ nghĩa trong xã hội Việt Nam là gì? Chuyện giáo dục bằng “gương người lớn” mà không quan trọng ư? Ông có nhớ câu chuyện cổ tích về một người bố cho ông nội ăn cơm trong gáo dừa thay bát cho khỏi vỡ, vì ông nội tay đã run, và đứa con nhìn thấy liền học theo, cũng chuẩn bị sẵn hai cái gáo dừa mẻ để dành về sau cho bố mẹ, hay không? Đó là chưa nói ông đang là “tấm gương” cho cả nước nhìn vào kia mà!

2. Ai cũng biết Trung Quốc rất cần nhôm để chạy đua trong ngành tên lửa và hàng không vũ trụ, để thực hiện những tham vọng không sao dò lường hết của họ. Từ lâu họ đã ký hợp đồng khai thác thứ quặng này ở nhiều nước và xúc tiến khai thác quy mô ngay cả trên đất nước họ. Khốn nỗi công nghệ của họ chưa đạt độ an toàn môi sinh cao, lại do những nhà thầu tư nhân thậm chí là những cai đầu dài vô học di cư bất hợp pháp chạy đua khai thác, đã gây ra những tai họa khủng khiếp ở lục địa Đen khiến cả thế giới đều lo lắng, và họ cũng đã phải đóng cửa rất nhiều mỏ quặng bauxite ở ngay trên đất nước họ[2 ] (Theo GS Nguyễn Ngọc Trân trong bài “Khai thác bauxite Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị” công bố ngày 8-4-2009 thì “Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn” (Xem: http://www.tuanvietnam.net/news/InTin.aspx?alias=thongtindachieu&msgid=6620). Cũng xin xem Dương Danh Dy: “Tìm hiểu tình trạng ô nhiễm môi trường klhi khai thác bauxit tại một vài nơi ở Trung quốc” (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/081128_timhieuonhiemotq.htm)). Thế thì làm sao mà tin họ được chứ! Thế mà lại ký hiệp ước mời họ đến khai thác bauxite trên đất nước mình, có phải là đã chuyển gánh nặng ô nhiễm tại đất nước Trung Hoa mênh mông sang mảnh đất Việt Nam bé nhỏ, để 84 triệu nhân dân Việt Nam gánh chịu thay cho 1 tỷ 3 dân của họ hay không? Sao lại có chuyện lạ đời đến thế? Ai, người Trung Hoa hay người Việt, đã tính chuyện lạ đời như thế?

3. Giới chuyên môn thừa biết đặc điểm quặng bauxite ở Việt Nam đòi hỏi một kỹ thuật khai thác khác với khai thác quặng bauxite ở Trung Quốc[3] (Xem thêm bài “Vấn đề công nghệ và môi trường trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên” của GS TS Nguyễn Thanh Sơn trên báo “Tia sáng” ngày 4-5-2009 (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&News=2825&CategoryID=3). Thế mà ta lại du nhập công nghệ khai thác bauxite Trung Quốc vào Việt Nam kể cả du nhập nhà máy của họ. Lấy gì bảo đảm rằng những công nghệ khai thác ấy thích hợp với yêu cầu kỹ thuật khai thác bauxite của chúng ta, bớt tốn kém và đưa lại hiệu quả? Những gì người Trung Quốc đã làm ở châu Phi, nơi mà ngay cả ở nhiều mỏ đồng họ cũng phải cuốn xéo, chẳng là bài học đáng học hay sao? Tại sao cứ phải “cố đấm ăn xôi” (mà đã chắc đâu có xôi để ăn) như vậy?

4. Việc đưa công nhân Trung Quốc vào Tây Nguyên cũng là cả một vấn nạn khiến chúng tôi lo lắng. Tuy thông báo 245-TB/TW của BCT Đảng Cộng sản vừa rồi có nói “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”, và có chỉ thị về việc “sử dụng người lao động địa phương”, điều này có làm yên lòng chúng tôi ít nhiều, nhưng báo chí của Việt Nam trước đấy đều cho biết kể từ cuối năm 2008, các Công ty Trung Quốc đã đưa công nhân vào làm việc ở Tân Rai – và đưa vào nhiều rồi. Thế nghĩa là ông chủ có thể “chưa sẵn sàng dọn cỗ” nhưng đã có các loại “bất tốc chi khách” – khách không mời mà đến. Lạ lùng hơn nữa là những người ngoại quốc này còn làm việc một cách bất hợp pháp tại Việt Nam vì nhiều người trong số đó đến nước chúng tôi bằng visa du lịch chứ không phải visa làm việc – họ đâu được phép chuyển đổi từ “khách du lịch” sang “công nhân khai mỏ”?! Đối phó với các loại “khách” này sẽ ra sao, trong khi người Việt còn thất nghiệp và đi nhiều nước kiếm việc làm? Phải chăng là mình đã tự làm khó cho mình (nên nhớ xét về tỷ lệ, mật độ dân số ở Việt Nam hiện đã gấp đôi Trung Quốc)?

3. Xin duoc hoi ong voi nguoi Viet thi TQ co y nghia nhu the nao (ke thu cu, ke thu tiem an, doi thu hay nguoi anh lon)?

Chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc là bạn như mọi dân tộc khác ở gần cũng như ở xa Việt Nam. Chúng tôi nghĩ, nhân dân Việt Nam cần học hỏi mọi đức tính tốt đẹp của nhân dân Trung Quốc và củng cố mối quan hệ láng giềng giữa hai nước thật tốt. Đó là điều kiện để cả hai dân tộc cùng phát triển trong hòa bình, trong xu thế của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng giai cấp thống trị Trung Hoa đủ các mầu sắc từ sắc vàng các triều đại xưa đến sắc đỏ triều đại nay thì luôn luôn có dã tâm bành trướng, không phải chỉ bành trướng sang Việt Nam mà còn sang nhiều nước láng giềng, chuyện này lịch sử đã và vẫn đang còn ghi chép. Chỉ hai sự kiện này là đủ để hiểu “tim đen” của các “đồng chí Trung Quốc”: năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Hoàng Sa, chính quyền miền Nam Việt Nam chưa tiếp quản kịp, Trung Quốc liền tức tốc cho quân ra chiếm; năm 1974, biết tình thế nguy cấp của chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc cũng tức tốc thực hiện chiến thuật cũ, chiếm trọn cả quần đảo Hoàng Sa. Đó là thời của vũ lực. Nay đã sang thời kỳ mới, xâm lăng bằng kinh tế và văn hóa, tiêu diệt bà con láng giềng bằng gây ô nhiễm… Bởi thế, trong huyết quản con người Việt Nam vẫn sẵn có ý thức cảnh giác với mọi nguy cơ và phương thức xâm lược, và luôn luôn tự củng cố nội lực bằng tinh thần đoàn kết rộng rãi, điều ấy là dễ hiểu[4] (Mới đây thôi giới blogger Việt Nam mới phát hiện một vụ việc có thể nói là tày trời: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa để đưa tin về việc hợp tác kinh tế việt-Trung. Ngày khai trương có mặt cả 3 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai bên là đồng chí Hồ, đồng chí Nông và đồng chí Nguyễn, cùng kích hoạt cho trang mạng đi vào hoạt động. Nhưng hỡi ôi, chỉ sau ít lâu thì mới biết, nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam. Hỏi đến những người chủ trì trang mạng ở Bộ Công thương thì họ đành lắc đầu, không có cách gì để xóa, bởi một lẽ giản đơn là máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Trang mạng “Bauixite Việt Nam” đã loan báo kịp thời trong bài “Giao trứng cho ác”, có hình ảnh cả ba đồng chí lãnh đạo tươi cười đứng sát bên nhau trong ngày khởi động cái phương tiện truyền thông gây tai vạ chết người cho dân tộc chúng ta (xin xem: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2fjjj.onhkvgrivrganz.vasb/lxvra/090513_tvnbgehatpubnp.ugz); còn “Blog Lê Tuấn Huy” thì nêu vấn đề hình như đã chạm tới bản chất: “Đồng tiền và chủ quyền” (http://blog.360.yahoo.com/blog-bfvqsbM9frIQmHcPB6d2QS4LkA–?cq=1&p=895); và “Blog Osin” gọi đó là “Giao trứng cho Trung Quốc” (http://www.blogosin.org/?p=898). Thử hỏi, với những chuyện chơi khăm kiểu đó, các “đồng chí Trung Quốc” thực hiên “16 chữ vàng” với Đảng Việt Nam có thật là “lòng vàng” hay không, hay là chỉ “lòng vàng” với Đảng mà “dạ tối thui” với đất nước và nhân dân này? Ngoài ra, dù gì đi nữa, dù vô tình hay cố ý, ngây thơ hay dại dột, thì vẫn cứ nhất thiết phải truy cứu: người nào ở cấp nào đã bị kẻ khác “làm xiếc” và người nào ở cấp nào là Lê Chiêu Thống trong trường hợp giao truyền thông cho Trung Quốc “nắm gáy” nói trên?).

4. Cac ong dang kien nghi gi tu phia chinh phu?

“Kiến nghị” đề ngày 12 tháng Tư năm 2009 của chúng tôi yêu cầu Chính phủ hãy dừng toàn bộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, có tổ chức giám sát chặt chẽ, và đưa dự án khai thác đó ra thông qua Quốc hội để Quốc hội xem xét thấu đáo tính chất tiền khả thi của nó, sau đó phê chuẩn hoặc bác bỏ là toàn quyền của Quốc hội. Nhưng cũng trong “Kiến nghị”, chúng tôi lại cũng khẩn thiết kêu gọi Quốc hội hãy “thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó” để Quốc hội có quyết định hợp lý hợp tình.

5. Cac ong keu goi moi nguoi tham gia hoat dong cua minh bang cach nao?

Thực ra chúng tôi không kêu gọi mọi người tham gia ký vào “Kiến nghị” mà lúc đầu chỉ gửi e-mail đến 15 người bạn nhờ góp ý tư vấn cho mình. Không ngờ đây vốn là một mối quan ngại đã nung nấu sẵn trong tâm can nhiều người chỉ chờ dịp là bùng phát, nên “Kiến nghị” được nhiệt liệt hưởng ứng, người này truyền cho người kia, rốt cuộc đến chiều ngày 16 (sau 4 ngày) thì đã có 133 người ghi tên vào danh sách, trong đó có rất nhiều nhà khoa học hàng đầu, văn nghệ sĩ tiêu biểu ở trong nước cũng như ngoài nước. Và cho đến nay con số đã trên 1.000 người. Tuy nhiên, quan điểm nhất quán trước sau của chúng tôi là muốn cho Nhà nước thấy sự thành tâm của mình, đây không phải là một việc gì khuất tất, nên những ai muốn ghi tên phải có đủ thông tin về nhân thân và về địa chỉ cư trú cụ thể. Vì thế, trong danh sách gửi lên cũng chỉ mới chọn lọc được 400 người và sắp tới sẽ có thêm 200 người nữa; những người còn lại phải bổ sung một số thông tin còn thiếu thì mới được gửi tiếp[5] (Hiện nay, Danh sách đợt 3 đến con số 600 đã công bố, chúng tôi sắp công bố Danh sách đợt 4 để gửi lên Nhà nước, đến hơn 1.000 người. Tiến độ có chậm trễ so với lượng người đăng ký (quá chậm trễ là khác) vì chúng tôi đều làm việc “tay trái”).

6. Theo du kien se co mot cuoc tu hop, trong hoa binh, vao ngay 23/4 de bay to su phan doi doi voi viec tien hanh du an. Xin duoc hoi ly do gi da khien cho cuoc tu hop ay khong dien ra?

Chúng tôi không biết đó là dự kiến của ai, riêng chúng tôi không hề đề xuất dự kiến này.

8. Xin cho biet ke hoach trong tuong lai cua cac ong la gi?

Việc lưu truyền bản “Kiến nghị” trên các trang mạng kể từ ngày 12-4-2009 làm cho ba người soạn thảo chúng tôi liên tiếp nhận được một số lượng e-mail hưởng ứng không sao trả lời xuể. Vì thế, đến ngày 22-4-2009 thì chúng tôi đành phải lập một Blog “Bauxite Việt Nam” (http://vn.myblog.yahoo.com/huechivn2009) để tiếp nhận thông tin từ khắp bốn phương. Nhưng rồi số lượng người truy cập cũng nhiều đến mức quá tải, đến ngày 28-4-2009 đã có hơn 41 vạn lượt người vào xem. Thế là đến ngày 27 tháng Tư năm 2009 chúng tôi lại phải chuyển đổi từ blog sang Website “Bauxite Việt Nam” (http://www.bauxitevietnam.info) do một số anh em tâm huyết đứng ra điều hành. Đến nay mới chỉ qua một ngày mà đã có hơn 36.000 lượt người truy cập[6] (Tính đến chiều 14-5-2009 đã có trên 40 vạn lượt người vào xem trang mạng của chúng tôi. Sở dĩ nói một cách phỏng đoán thế thôi vì tự nhiên trang mạng bauxitevietnam.info đang yên lành bỗng gặp “trục trặc”, vào mạng vẫn được, song upload thì không được nữa, và số lượng người truy cập hiển thị trên trang web cũng bị xóa. Ai mà lo ngại ảnh hưởng của trang mạng vốn tuân thủ nghiêm chỉnh phép nước của chúng tôi thế nhỉ? Chắc đây phải là “kẻ địch”, “mưu toan phá hoại đất nước”, nói như Thông cáo báo chí ngày 28-4-2009 của Bộ Công thương).

9. Cung co cac quoc gia khac nhu My dang can nhac khai thac khoang san tai VN. Cac ong co phan doi nguoi My toi VN ko? Neu khong, tai sao ong lai Kien nghi nhu vay?

Chúng tôi không hề phản đối người Mỹ tới Việt Nam đặt quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trái lại, việc củng cố mối quan hệ Việt-Mỹ giúp cho Việt Nam phát triển là một yêu cầu tối cần thiết. Nhưng nếu người Mỹ đến chỉ để khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì mọi vấn đề đang đặt ra về môi sinh, về văn hóa, về lợi nhuận… vẫn như thế, có khác gì đâu. Chúng tôi không kỳ thị các công ty Trung Quốc, mặc dù công nghệ Trung Quốc chắc chắn là kém xa Mỹ – và đã từng để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho đất nước chúng tôi như các nhà máy mía đường Trung Quốc mà Nhà nước chúng tôi từng nhập về cách đây hàng chục năm làm cho ngành mía đường Việt Nam thua lỗ chỏng gọng vì dây chuyền công nghệ cũ mèm. Người nhập kiếm được một món béo bở, tất nhiên, còn dân chúng phải è cổ ra gánh chịu mọi hậu quả, ai mà chả thấy[7] (Ngay chính một trang mạng của Trung Quốc 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 3984582, trong bài “Cuộc cạnh tranh bô-xít Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ” cũng thừa nhận chính sách đưa các dây chuyền công nghệ đã bỏ đi cũng như các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc vào đầu tư tại Nam Trung Bộ Việt Nam từ lâu đã gây ra ô nhiễm tệ hại và làm cho người Việt Nam thêm nghi ngại Trung Quốc, “Nếu không phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt… chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố”). Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là phải bảo vệ sự an bình của Tây Nguyên bằng mọi giá, hơn nữa cũng phải bớt dần đi cái lối làm kinh tế theo kiểu cứ moi khoáng sản lên để bán. Cái đó là một biện pháp “bóc ngắn cắn dài” chỉ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế các nước hiện đại.

10. Theo ong thi cac cty VN ky hdong voi cong ty cua TQ khi nao vay?

Việc này không có báo chí nào đưa, có lẽ cũng là điều cấm kỵ sao đó nên tôi không thể trả lời quý báo chính xác được. Trên ba số báo mạng Vietnamnet bằng tiếng Anh ra các ngày 23-09-2004, 14-10-2005 và 02-11-2005 có nhắc rằng dự án ký kết đã được duyệt, số tiền là bao nhiêu bao nhiêu, nhưng lại không hề ghi rõ ngày tháng hai bên đặt bút ký. Có lẽ “lề đường bên phải” phải dùng đến loại giày riêng, buộc báo chí phải “gọt” hết những con số thòi ra như vậy cho “vừa giày”. Chỉ biết đến nay, theo trang mạng BBC, Công ty Chinalco đã đưa người vào khai thác ở Tây Nguyên rồi[8] (Trong “Thư ngỏ” số 2 gửi lên các vị đứng đầu cơ quan quyền lực Nhà nước ngày 7-5-2009, chúng tôi đã tra tìm được các “bản ghi nhớ” ký với nhau giữa các công ty TQ và Việt Nam từ 2001 đến 2007; như vậy, câu trả lời này đã được bổ sung cụ thể và rõ ràng).

11. Cho toi thoi diem hien tai, theo ong duoc biet, da co bao nhieu cong nhan TQ dang lam viec o cong truong?

Đây cũng là một “bí mật nhà nước” mà báo chí không được phép để lộ. Trên Vietnamnet ngày 14-4-2009 có nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây, chứ không nói rõ số lượng bao nhiêu. Tất nhiên 20 dãy nhà kia chỉ là nhà cho công nhân làm việc cơ bắp chứ chuyên gia kỹ sư Trung Quốc thì đều ở các ngôi nhà ngoài thị trấn. Tuy vậy cũng trong bài báo ấy lại có để lộ rằng: theo lời một chủ quán ăn là Phượng thì số lượng công nhân Trung Quốc ở khu mỏ vào khoảng 800 người. Còn theo trang mạng “Sài Gòn tiếp thị” ngày 15-4-2009 thì những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đã đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người. Cần chú ý thêm là cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít; quá ít người dân địa phương được nhận vào làm. Riêng ở Đắc Nông, tức ở khu mỏ bauxite Nhân Cơ, nơi hiện đang xúc tiến mạnh việc xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, thì theo báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây (trích lời ông Bùi Quang Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV), nhưng sau đó, ông Ngô Tố Ninh, lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV lại đã cải chính rằng con số nêu trên là chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (Vietnamnet ngày 26-4-2009). Chỉ chừng đó cũng đủ thấy một chuyện không có gì ghê gớm cả mà đối với thông tin truyền thông Việt Nam vẫn là cả một trò… “ú tim”. Trong khi ở Tân Rai người ta không nhận công nhân người Việt thì liệu 3.000 công nhân tại Nhà máy alumin Nhân cơ do Tập đoàn Chalco cai quản có được bao nhiêu người Việt? Muốn điều tra cho rõ điều này chắc phải có một đội ngũ các nhà xã hội học chịu khó xin phép đến Nhân Cơ hỏi chuyện từng người bằng tiếng Hoa, tiếng Việt, hoặc bằng tiếng của người dân tộc bản địa rồi cứ thế làm một phép cộng tỉ mỉ mới biết đích thực có bao nhiêu trong số 3.000 công nhân kia là người Việt Nam[9] (Không phải chỉ ở Tây Nguyên, rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, công nhân Trung Quốc đã sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, công trường đông đặc. Xin xem bài “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” của Cầm Văn Kình và Đăng Nam trên báo “Tuổi trẻ” ngày 16-4-2009 và trên trang mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=311388; và các bài: “Người Quảng Tây ở Quảng Nam” trên báo “Sài Gòn tiếp thị” 5-5-2009 (http://www.sgtt.com.vn/Detail29.aspx?ColumnId=29&newsid=50976&fld=HTMG/2009/0505/50976); “Thợ Việt - Trung đón tết trên công trường thủy điện” trên báo “Quảng Nam” ngày 19-1-2009 (http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=16125&Itemid=202)).


Nguồn: http://www.talawas.org/?p=4424
-->đọc tiếp...

Lo ngại về hiệu quả tài chính của các dự án bauxite

BXTN:- Đọc bài này để thấy cụm từ "Đoàn Văn Kiển" gây cho những người quan tâm đến tình hình Tây Nguyên và vấn đề khai thác bô-xít những ám ảnh đến thế nào.








Phạm Phú Quốc (*)

San lấp mặt bằng khai thác bauxite tại Nhân Cơ, tỉnh Đắk Nông - Ảnh: Thanh Thương.
(TBKTSG) - Bài trả lời phỏng vấn TBKTSG số 20-2009 của ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV), cho thấy thêm nhiều điều đáng lo ngại về hiệu quả tài chính của các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Các dự án này đang bị quan ngại sẽ ảnh hưởng xấu tới môi trường và an ninh quốc gia thì càng không thể đầu tư, nếu hiệu quả tài chính của chúng như những gì ông Kiển cung cấp.

Thứ nhất, IRR của hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ (lần lượt 11,43% và 10,59%) là quá thấp để được chấp nhận nhận đầu tư.Khi sử dụng IRR (tỷ suất hoàn vốn nội bộ), người ta dùng nó để so sánh với mức sinh lời mong muốn.

Nếu IRR ≥ mức sinh lời mong muốn thì dự án mới được chấp nhận. Tuy không có dữ liệu của các dự án này để tính ra các mức sinh lời mong muốn của chúng, thiết nghĩ các mức sinh lời này không thể dưới mức lãi suất của trái phiếu chính phủ. Ước tính lãi suất trái phiếu chính phủ thời hạn năm năm sẽ vào khoảng 13,5%/năm(1).

Vị trí đặt quảng cáoNhà nước huy động vốn 13,5%/năm, nhưng doanh nghiệp của Nhà nước lại chấp nhận đầu tư với mức sinh lời mong muốn nhỏ hơn (11,43% và 10,59%) với nhiều rủi ro hơn, thì sẽ thấy đây là một việc làm khó hiểu. Đó là chưa nói đến việc bản thân dự án phải đi vay, phải huy động vốn trái phiếu với lãi suất phải trả (lãi suất trái phiếu) lại lớn hơn mức sinh lời của dự án!

Thứ hai, dự án được tính ở thời điểm khủng hoảng nên có giá trị thấp hơn tính ở thời điểm tốt là không đúng.

Lập luận rằng IRR và NPV (giá trị hiện tại thuần) của các dự án thấp là do chúng được tính toán vào năm nay, ở thời điểm khủng hoảng; còn nếu tính ở năm ngoái thì dự án hiệu quả hơn là một lập luận hoàn toàn thiếu thuyết phục.

Khi xây dựng dòng tiền của dự án để sau này tính IRR và NPV, trước hết các số liệu được xem xét trong dự án là các số liệu mà nhà đầu tư cho rằng có khả năng xảy ra cao nhất, được gọi là trường hợp cơ bản. Sau đó, để phân tích mức độ rủi ro của dự án, người ta sẽ xem xét thay vì là trường hợp cơ bản, nếu số liệu của dự án rơi vào trường hợp xấu nhất hoặc tốt nhất thì dòng tiền cũng như IRR và NPV của nó sẽ ra sao.

Dự án nào xét trong trường hợp cơ bản và trường hợp xấu nhất đều có IRR và NPV tốt thì sẽ được đánh giá cao nhất; ngược lại, dự án nào xét trong cả hai trường hợp cơ bản và trường hợp tốt nhất đều có IRR và NPV không thể hiện dự án hiệu quả sẽ được đánh giá thấp nhất.

Mức độ rủi ro của một dự án sẽ biến động trong hai cực này. Thiên về cực đầu thì ít rủi ro; ngược lại, nghiêng về cực thứ hai thì nhiều rủi ro. Những số liệu về các trường hợp cơ bản, tốt nhất và xấu nhất là các số liệu dự tính tương lai của dự án.

Chúng được tham khảo từ số liệu có được trong quá khứ cho tới tại thời điểm tính toán chứ không phải là số liệu của năm tính toán, do đó không thể đổ lỗi vì năm tính toán là năm khủng hoảng cho nên kết quả bị ảnh hưởng xấu.

Hơn nữa, càng về sau số liệu về dự án càng được cập nhật chính xác hơn vì có nhiều dữ kiện hơn, cho nên nếu so sánh hiệu quả tính trên số liệu có được của năm nay với hiệu quả tính trên số liệu có được của năm ngoái mà thấy dự án kém hiệu quả hơn thì điều đó có nghĩa là dự án có vấn đề, chứ không phải là tốt.

Thứ ba, khả năng hoàn được vốn của hai dự án bauxite và việc thời hạn hoàn vốn của hai dự án này bù đắp cho tình trạng IRR thấp ẩn chứa nhiều bất ổn.

Có hai lý do cho thấy cách giải thích “dù IRR không cao, nhưng đảm bảo 12-13 năm thu hồi được vốn cho dự án là 40 năm thì vẫn đầu tư được” là không ổn. Thứ nhất, nếu tính toán chính xác thì có khả năng hai dự án này không thu hồi được vốn! Cần phân biệt thời hạn hoàn vốn không tính tới giá trị tiền tệ theo thời gian (PP)(2) và thời hạn hoàn vốn có tính tới giá trị tiền tệ theo thời gian (DPP)(3).

Bài phỏng vấn không cho biết rõ thời gian hoàn vốn của dự án được nói tới thuộc loại nào trong khi chúng có giá trị khác nhau và chỉ tiêu sau phản ánh hiệu quả dự án chính xác hơn chỉ tiêu trước.

Ví dụ một dự án ban đầu bỏ ra 100 tỉ đồng để đầu tư, hai năm sau đó mỗi năm lần lượt thu về 50 tỉ đồng thì PP sẽ là hai năm; nhưng nếu tính tới lạm phát(4) (làm cho 100 tỉ đồng thu hồi có sức mua thấp hơn 100 tỉ đồng bỏ ra ban đầu) thì phải hơn hai năm dự án này mới thu hồi được vốn (DPP>2).

Vì rằng, IRR hai dự án của TKV là 11,43% và 10,59%, nên nếu lấy mức sinh lời mong muốn là 13,5%, như đã đề cập, để tính toán DPP thì e là dự án không hoàn được vốn (do NPV<0>

Thứ hai, thời hạn hoàn vốn không thể bù đắp cho IRR thấp được. IRR là chỉ tiêu tính cho toàn bộ thời hạn của dự án còn thời hạn hoàn vốn chỉ tính cho tới khi vốn đầu tư đã được thu hồi đủ. IRR không cao mà bảo đảm 12, 13 năm thu hồi được vốn chỉ có thể xảy ra nếu dự án có mức sinh lời cao vọt trong những năm đầu tiên và những năm sau không lãi. Đây là chuyện phi lý!

Thứ tư, không thể để “cái nọ xọ cái kia” trong quyết định đầu tư dự án.

Ông Kiển cho rằng, nếu dự án kém hiệu quả thì TKV sẽ gánh rủi ro rồi sau đó sẽ đẩy hiệu quả dự án lên và TKV làm được điều đó nhờ kinh doanh đa ngành. Có hai điều không ổn về vấn đề này. Thứ nhất, nếu dự án không hiệu quả mà TKV có thể đẩy kết quả kinh doanh lên được thì tại sao vấn đề này lại không được đề cập trong phần tính toán hiệu quả và rủi ro của các dự án?

Nếu đã đưa vào mà hiệu quả dự án vẫn như được đề cập thì làm sao lại kéo hiệu quả dự án lên được nữa? Điều này, một lần nữa chứng tỏ các dự án bauxite của TKV đã không được tính toán kỹ lưỡng.

Thứ hai, nếu các lĩnh vực kinh doanh khác của TKV có hiệu quả cao để có thể gánh các dự án bauxite khi chúng không hiệu quả thì vấn đề đặt ra là, tại sao TKV lại không chọn các dự án ở các lĩnh vực đó để có kết quả đầu tư tốt mà lại chọn các dự bauxite có nhiều khả năng phải gánh chịu thiệt hại?

Thông qua những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng có nhiều điều TKV cần phải làm rõ trước khi quá muộn. Xét riêng ở góc độ tài chính, việc đầu tư vào các dự án bauxite của TKV đã có nhiều yếu tố bất hợp lý.

(*) Nghiên cứu sinh Monash University, Úc

(1) Theo HSBC: http://www.presscenter.org.vn/en//images/HSBC_2009.01.07.pdf

(2) Hay còn gọi là thời hạn hoàn vốn không chiết khấu (Payback Period - PP)

(3) Hay còn gọi là thời hạn hoàn vốn có chiết khấu (Discounted Payback Period - DPP). DPP cho nhà đầu tư biết đến bao giờ thì NPV của dự án bắt đầu bằng 0. Vì nhà đầu tư chỉ chấp nhận chọn dự án khi NPV≥0, như vậy, nếu DPP càng ngắn so với thời gian của dự án thì càng tốt.

(4) Đó là chưa kể đến chi phí cơ hội và rủi ro.

-->đọc tiếp...

Hai thắc mắc về vụ bauxite Tây Nguyên

Dư luận về vụ này đang xôn xao thêm từng ngày, không chỉ các trang mạng trong nước mà cả báo chí quốc tế cũng đưa tin sát sao. Bộ Chính trị đã có kết luận, bây giờ mọi người còn hồi hộp theo dõi xem Quốc hội sẽ thảo luận vấn đề này như thế nào. Vị dân biểu Nguyễn Lân Dũng đã sớm cho biết ý kiến là ông đã "hoàn toàn thoả mãn" với các kết luận của BCT rồi, nhưng còn mấy trăm vị nữa, quốc dân cũng rất mong các vị tỏ rõ chính kiến.

Với tư cách là một công dân, tôi có một thắc mắc từ đầu mà đến nay tôi vẫn chưa biết rõ.
Đó là vấn đề: ý tưởng về dự án Bauxit khởi đầu do ai (phía VN hay phía TQ) nêu lên? Không nhắc lại việc VN đề xuất với khối Comecom hồi đầu thập kỷ 1980 đã được các chuyên gia Nga góp ý không nên thực hiện. Hồi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Phó thủ tướng trực tiếp thụ lý vấn đề này, đại tướng đã cho biết rất rõ trong bức thư, nay ai nấy đều được biết cả rồi. Điều tôi thắc mắc là trong và sau quá trình bình thường hóa quan hệ VN-TQ, bên nào là phía đầu tiên đề xuất vấn đề hợp tác khai thác Bauxit ở Tây Nguyên?

Việc đó:

a- Đơn thuần là một sáng kiến làm kinh tế có lợi cho cả đôi bên, được đề xuất riêng biệt, trong hoàn cảnh hợp tác bình thường như bao viêc kinh doanh buôn bán khác lâu nay ?

b-Hay là một đề tài được đề xuất cả gói (chung với các yêu cầu đề nghị khác) được đem ra đàm phán để tiến đến ký kết bình thường hóa quan hệ Việt - Trung?

Hai khởi đầu khác nhau dẫn đến các cách giải quyết vấn đề khó dễ khác nhau.

Nếu đơn thuần là hợp tác kinh tế thì tôi nghĩ Đảng cứ để cho bên chính quyền (Thủ tướng) làm, đồng thời cũng nên để cho dư luận xã hội tham gia đóng góp ý kiến, càng nhiều phản biện càng tốt. Chính các nhà lãnh đạo của Đảng mấy năm gần đây cũng rất nhiều lần kêu gọi như vậy. Thế nhưng đang khi nhiều nhà chuyên môn hiểu sâu về bauxit đang nghiêm túc tranh biện thì Thủ tướng lại nói đây là "chủ trương lớn của Đảng", rồi Bộ Chính trị lại ra bản kết luận, khiến cho dư luận nhân dân không khỏi cảm thấy đây không đơn thuần là vấn đề hợp tác kinh tế có lợi đôi bên, mà là một vấn đề chính trị ngoại giao hệ trọng liên quan đến quan hệ hai nước Việt-Trung.

Đành rằng việc quốc gia cũng có khi phải giữ bí mật (trong thời gian ngắn) để tiện làm việc, nhưng nay Trung Quốc tuyên bố rõ ràng rồi: quan hệ với Việt Nam là quan hệ láng giềng hữu nghị, minh bach công khai, theo thông lệ quốc tế chứ không theo cách nói tinh thần "đồng chí" CSCN như xưa nữa. Gần đây nhất sau khi VN nộp hồ sơ về thềm lục địa mở rộng thì TQ lập tức đã gửi công hàm phản đối, mà ta cũng đã gửi ngay công hàm phản đối hồ sơ của TQ, như thế là công khai minh bạch, không có gì khuất tất. Xa nữa thì như công hàm 1958 của Thủ tương Phạm Văn Đồng, trước họ cũng giữ kín không nói rõ, nhưng gần đây họ cũng đã họp báo phổ biến khắp thế giới rồi, có gì phải "bí mật" để giữ quan hệ đâu? Vậy thì vấn đề có tên dự án Bauxit Tây Nguyên trong các đề xuất cả gói khi đàm phán bình thường hóa quan hệ Viêt - Trung hay không Chính phủ cũng nên công khai thông báo cho cả nước được biết.

Cứ để tình trạng lờ mờ như hiện nay, dư luận có thể suy ra là có một sự gì đó rất khác thường, vì dự án Bauxit Đắc Nông được nêu lên trong thông cáo chung sau cuộc hội đàm của người đứng đầu hai ĐCS Trung Quốc-Việt Nam năm 2001, tức là một việc lớn chứ không phải việc lặt vặt chỉ ở mức 600 triệu USD chưa đủ quan trọng để thảo luận ở Quốc hội như ông Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng mới phát biểu gần đây. Lưu ý rằng nếu Chính phủ ta không chủ động nói rõ vấn đề này thì đến một lúc thích hợp nào đó chính ĐSQ Trung Quốc tại VN họ cũng sẽ nói ra. Mọi người hẳn còn nhớ vụ phá cây xanh xây khách sạn trong công viên Thống nhất, khi dư luận rộ lên, đại diện văn phòng UBND TP Hà Nội nói lờ mờ dự án ấy liên quan đến nhà đầu tư Thuỵ Điển là nước có công ủng hộ ta trong kháng chiến chống Mỹ, cách không mấy ngày ĐSQ Thuỵ Điển đã ra thông cáo cải chính ngay là họ không liên quan gì đến công trình khách sạn ấy nữa! Tôi hy vọng rằng dự án Bauxit Đắc Nông hay Tây Nguyên không nằm trong một hiệp nghị tổng thể nào quan trọng như tầm cỡ hiệp định khôi phuc quan hệ bình thường giữa hai nuớc.

Lại nữa, ngay cả khi nó đã được trói vào phần cứng đó, thì dư luận cũng cần được biết thêm "sáng kiến" bauxit ấy là do phía VN chủ động nêu lên cho “đủ sức nặng” để trao đổi với gói của Trung Quốc, hay ngược lại là do phía TQ nêu lên – nghĩa là TQ đòi bauxit như một điều kiện trong gói đàm phán?

Thật khó khăn, nếu như tên Bauxit Đắc Nông đã được ghi trong phần cứng của một hiệp định VN-TQ ở tầm cỡ quốc gia. Nếu có chuyện đó, các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước lại càng cần cho toàn dân biết rõ để đồng thuận tìm cách giải quyết, chứ không nên giữ im coi là "chuyện đã rồi" như ông dân biểu Dương Trung Quốc có nói đến. Ký kết rồi mà không thực hiện thì TQ họ sẽ nói VN mình "lật lọng" (tôi xem internet TQ thấy rất nhiều các bài vở thiếu hữu nghị với VN như vậy). Nhưng tôi nghĩ rằng, hãy tổ chức các hội thảo khoa học một cách khách quan (chứ không phải hội thảo đạo diễn như cuộc vừa qua) để xác định lợi ích được - mất của dự án, thậm chí cần phải mời cả các tổ chức quốc tế có uy tín làm tư vấn thẩm định v.v. Rồi Quốc hội thảo luận một cách rất thẳng thắn dân chủ công khai, nếu cần dừng hay điều chỉnh thế nào thì sẽ thương thảo lại với phía TQ, họ chịu hay không là một chuyện, chứ có gì mà cứ phải giữ kín lờ mờ ? Đó là một tình thế có thể nói là khá kẹt, nhưng nếu cần vẫn phải làm. Thế giới ngày nay có những cuộc khủng hoảng tưởng xẩy ra chiến tranh tới nơi mà người ta vẫn giải quyết được, vụ bauxit làm gì đã đến mức như vậy mà e dè không muốn nói thật ra?

Cuối cùng, nếu quả thật dự án Bauxit Đắc Nông (hay Tây Nguyên nói chung) không bị gắn vào một cam kết cứng nào đó phải thực hiện, các khả năng còn lại đôi bên chỉ coi như một dự án hợp tác giữa các tập đoàn kinh tế với nhau thì lại càng có thể tìm ra lối thoát. Giả dụ cứ "cố đấm" làm cho được cái dự án ấy, thì về môi trường, Tây Nguyên bị tàn hại như thế, mà về lợi ích kinh tế, ông Kiển đã có câu nói rất nổi tiếng 50:50, nghĩa là rất có thể bị lỗ hoặc có lời thì mức độ cũng khá thấp! Làm gì cũng vì lợi ích quốc gia (chứ có phải việc riêng quyền lợi riêng của các vị đâu), thế thì hay gì cái chuyện cứ làm thục mạng mà dư luận hiện nay đã khá đông người không đồng tình. Dăm ba năm năm nữa lên Tây Nguyên thấy xơ xác một màu đỏ ối mà đời sống người dân Tây Nguyên chẳng khá lên được tí nào, thì thử hỏi các vị có yên tâm với công sức của bao người đã bỏ ra hay không ? (Lời lãi như ông Kiển nói đó thì lấy gì mà cải thiện đời sống cho đồng bào Tây Nguyên?).

Tôi thích xem đá bóng, thường vẫn gọi đội U22, U23, v.v. Nay tôi đã là cầu thủ đội ngoài 70 rồi, tuy theo dõi vẫn thường xuyên nhưng mấy chục năm trường trôi qua, tôi tuyệt nhiên chưa viết một bài nào về chuyện quốc gia đại sự cả. Nhưng nay những người cùng trang lứa như GS Nguyễn Huệ Chi vốn là bạn học của tôi hồi thiếu niên, sau lại cùng làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu giới thiệu di sản Hán Nôm, nay đứng chính thảo hai bức thư nêu những kiến nghị rất xác đáng với một tinh thần rất thẳng thắn, trong sáng không chút vụ lợi. Vậy thì tôi cũng phải mạnh dạn ghi lại mấy thắc mắc về sự khởi đầu của dự án Bauxít Tây Nguyên. Tôi đã mất nhiều thì giờ tra tìm, không thấy đâu nói đến. Đó là thắc mắc thật của tôi chứ không phải cách đặt ra câu hỏi để tự trả lời như thường thấy.

Nếu may mắn có vị lãnh đạo có trách nhiệm bằng cách nào đó giải đáp cho thì rất tốt (lưu ý trách nhiệm giải đáp, tránh tình trạng như chuyện ĐSQ Thuỵ Điển cải chính đã nói ở trên). Nếu không được như thế thì bàì nêu thắc mắc này kể như cũng rơi vào "sự im lặng đáng sợ". Biết làm sao nữa?

Ngô Đức Thọ

50, ngõ 210/41/11 Đội Cấn,Hà Nội

ngoductho@hn.vnn.vn

HD Mạng Bauxite Việt Nam hiệu đính
-->đọc tiếp...

Sốc với mấy ông thần TKV

BXTN:- Mặc dù đã trôi qua trên dưới một tháng, phát biểu của ông Tổng than Đoàn Văn Kiển vẫn hằn sâu trong suy nghĩ của nhiều người (cá nhân tôi khi nghĩ đến vẫn cảm thấy run sợ và phẫn nộ vì câu nói của ông). Dưới đây là một trong những người bị những lời của ông Kiển gây ấn tượng mạnh.


Thời gian gần đây, báo chí đua nhau giật tít “sốc với abc” – với abc thường là ảnh khỏa thân của ngôi sao nào đó. Ừ thì cũng ghê thật đấy, nhưng làm gì đến nỗi “sốc”. Mấy cô gái trẻ thừa tiền thiếu chữ hám danh lợi thì thiếu gì trò tiêu khiển sa đọa. Dăm bữa nửa tháng các cô ấy lại để lọt ra một vài tấm ảnh thì việc gì phải bù lu bù loa lên.

Trong khi đó, chuyện tày trời ở sát nách mình thì chẳng thấy báo nào chịu “sốc” – quan chức tập đàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới tuyên bố: “Làm bô-xít hiệu quả hay không, chờ thực tế mới biết”! Ố là la!

Lời tuyên bố này được tờ Tuần Việt Nam – một tờ báo thuộc hàng “cứng đầu cứng cổ”, thích “đi trên lề trái” đây – đăng tải hôm qua, 13 tháng Tư năm 2009.

Cụ thể, ông chủ tịch TKV nói:

Lỗ hay lãi bây giờ chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.

Đúng là chỉ có ở Việt Nam. Một loạt các nhà khoa học lên tiếng nhưng chỉnh phủ vẫn bỏ ngoài tai và để cho ông thần này tuyên bố khoa học và thực tế “là 50:50″ – tôi chịu không hiểu nổi cái 50:50 của ông là ý nói gì. Cơ sở hóa học, kinh tế học, xã hội học, địa-chính trị học lù lù ra đấy rồi mà ông bảo ngang bằng với đống hồ sơ mờ mờ ảo ảo của TKV ư?

Trước khi đi đến kết luận đó, ông TKV này còn nói:

Lịch sử phát triển công nghiệp của Việt Nam cho thấy, nhiều dự án được cho là không hiệu quả, các nhà đầu tư tính toán vẫn thấy lãi, Chính phủ đồng ý làm và đến nay nó đã chứng minh hiệu quả.

Nhưng ông không chỉ ra được ví dụ cụ thể. Và ông cũng không dám đảm bảo đã tính chi phí hoàn nguyên môi trường, đền bù thiệt hại vào cái gọi là lợi nhuận đó hay chưa.

Hơn nữa, lịch sử chứng minh rằng chúng ta – sau hai chục năm đổi mới – vẫn chỉ có công nghiệp giản đơn, toàn là gia công, lắp ráp chứ có chế được món gì ra hồn đâu!

Xin chú thích thêm rằng những dự án bê bối như tân trang tàu cũ của Vinashin hay chế biến bột ngọt của Vedan cho đến nay chưa hề đền bù cho người dân địa phương, chưa bắt đầu cải tạo – làm sạch môi trường nhưng đã bắt đầu di dời dân địa phương đi nơi khác BẰNG KINH PHÍ NHÀ NƯỚC (!?).

Khi nói về chi phí môi trường, quan TKV tuyên bố:

Không thể chỉ căn cứ vào vài tiểu tiết để đưa kết luận. Quan điểm của TKV là phải nhìn vào cả đời dự án, nhìn tương lai để tính toán các kịch bản khác nhau. Chúng tôi đều phải tính toán, khảo sát các phương án để đi đến kết luận.

Hóa ra phí làm sạch môi trường là “tiểu tiết” cơ đấy. Thế có ghê không!

Bên cạnh đó, ông Hoàng Trung Hải – phó thủ tướng – nói:

TKV tính, nếu người nước ngoài không cùng làm đường sắt thì mình vẫn phải làm. Chính phủ sẽ có chính sách nào đó để làm.

Không thấy ông cho biết cái tuyến đường sắt đó sẽ dùng vào việc gì, sẽ có hàng hóa gì được vận chuyển qua đó. Chúng ta đã có những tuyến đường bộ thuận lợi hơn đi sang Lào, Campuchia và Thái Lan rồi, xây đường sắt ở nơi hiểm trở để làm gì? Và tất nhiên, các nhà khoa học chưa kịp phát biểu gì về tuyến đường từ trên trời rơi xuống này.

Ở cuối bài, các quan thừa nhận là người Trung Quốc đã vào Việt Nam. Ít ra ở Tân Rai hiện có 300 công nhân Trung Quốc. Mà 300 người thì rõ là bằng nguyên một làng ở Tây Nguyên, thế mà trong cuộc họp thường kỳ của chính phủ hồi cuối tháng Ba, có vị dám thề thốt rằng không có làng người hoa nào ở cao nguyên trung phần.

Và để kết thúc, tôi xin dẫn lại lời ông chủ tịch TKV khi được hỏi lý do dự án bô-xít được lên kế hoạch từ một thập kỷ nay mà không công bố cho dân biết:

Đó không phải là việc của tôi. Trước đó, tôi có liên quan đâu, làm sao tôi trả lời(?!).

Quá hay! Vậy ra khi tiếp nhận công ty, dự án thì ông chẳng cần quan tâm xem trước đó nó ra sao phải không? Rồi vài năm nữa ông về hưu thì dù bùn đỏ có nhấn chìm luôn Việt Nam ông cũng vô can.

Chính quyền sẽ lấy tiền thuế của dân để di dời dân đi nơi khác chứ các ông có mất xu teng nào đền bù thiệt hại đâu, đúng không?

Nếu đưa ra quốc hội thảo luận, tôi tin rằng dự án bô-xít ở cao nguyên trung phần sẽ bị bác bỏ ngay. Nhưng đến giờ vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì cho thấy vấn đề có thể sẽ được đưa ra bàn thảo công khai.

Mang tiếng nô bộc của dân mà làm gì cũng thấy giấu nhẹm không cho chủ biết, thật là hợp hiến(*) ghê gớm!

Tôi nghe đồn mấy ông quan hiện nay chăm đi chùa lắm, cầu Trời khấn Phật, lạy lục sì sụp suốt. Nhưng nghe qua tuyên bố của các ông thì hẳn là Trời, Phật phải lạy các ông thôi!

(* Tham khảo thêm hiến pháp Việt Nam)


Nguồn: http://4thcafe.wordpress.com/2009/04/14/tkv/

-->đọc tiếp...

Kiến nghị bauxite

BXTN:- GS. Nguyễn Huệ Chi - một trong 3 người khởi xướng bản kiến nghị về bô-xít Tây Nguyên và xây dựng trang http://www.bauxitevietnam.info/index.html trả lời phỏng vấn đài RFI về chủ đề này.


Dự án bauxite ở Tây Nguyên vẫn là đề tài đang được công luận đặc biệt quan tâm. Sau khi bản kiến nghị dừng dự án bauxite với 135 chữ ký của giới trí thức trong và ngoài nước gửi đến Quốc Hội thì chính phủ đã có những phản hồi mà nhiều người cho rằng tích cực.

Tuy nhiên, mt thông cáo báo chí gi đi t B Công Thuơng li b gii trí thc trong nưc cho là thiếu thin chí và có ý chp mũ nhng ngưi ký tên vào bn kiến ngh này.

Đ phn bin li thông cáo này, nhóm vn đng ch ký đã gi tiếp mt bn kiến ngh th hai cho ba nhân vt cao cp nht ca Vit Nam là Th tưng Nguyn Tn Dũng, Ch tch nưc Nguyn Minh Triết và Ch tch Quc Hi Nguyn Phú Trng.

Mc Lâm phng vn GS Nguyn Hu Chi, ngưi đng ch trương và viết bn kiến ngh này, đ tìm hiu thêm vn đ.

D lun hoan nghênh

Mc Lâm : Thưa Giáo Sư, sau khi bc thư ng th hai đưc gi đi thì tín hiu ca dư lun phn hi li như thế nào?

GS Nguyn Hu Chi : T hôm qua đến nay dư lun phn hi đi vi thư ng s hai ca chúng tôi rt là sôi đng, hoan nghênh lá th ng ca chúng tôi. Tt nhiên là chúng tôi vn trong tinh thn là rt tôn trng đưng li gi nưc và phát trin đt nưc, phi có hai vế là gi nưc cho an toàn và phát trin đt nưc, nhưng mà gi nưc an toàn và phát trin đt nưc trên cơ s mt nn dân ch và công bng.

Mc Lâm : Theo báo chí thì B Trưng B Công Thương là ông Phm Khôi Nguyên đã có mt ti Tây Nguyên đ kim tra v nhng vn đ dư lun phn bin, Giáo Sư có cho rng đây là mt du hiu lng nghe hay không?

GS Nguyn Hu Chi : Chúng tôi cũng suy nghĩ rt nhiu v vic ông Nguyên lên kim tra ti hin trưng và đưa ra nhng ý kiến rng là h đ cha bùn đ chưa đt tiêu chun và mt s nhng hng mc chưa đáp ng đưc cái yêu cu cao v phương din môi trưng cũng như là phương din k thut. Và ngày hôm qua ông Trương Tn Sang là u viên B Chính Tr có cho công b là phi kim tra li rt nhiu, nhưng mà trong đó là tài nguyên khoáng sn ca đt nưc.

Đy là nhng tín hiu mà theo chúng tôi là đáng chú ý. Tt nhiên tiếng nói ca trí thc chc chn là đến tai các ông, mc dù trong th ng th hai chúng tôi đã nói là "lá thư tâm huyết" ca nhng ngưi có công ln vi đt nưc như là Đi tưng Võ Nguyên Giáp.

Mc Lâm : Giáo Sư và nhng ngưi ch trương đã gi thư ng th hai đ phn bin li thông cáo báo chí ca B Công Thương vì nhng lý do gì?

GS Nguyn Hu Chi : S dĩ phi tr li B Công Thương vì thc tế là B Công Thương đã đưa ra mt thông cáo báo chí có th nói là làm vi vã đ chng li mt kiến ngh do hàng ngàn ngưi ký tên, mà chc là cũng do phi theo lnh b trên thôi, ch còn chúng tôi cũng tha biết rng nhng ngưi đng đu B Công Thương làm sao mà có th đi đáp đưc vi chúng tôi vì chúng tôi có bng c, chúng tôi là nhng nhà khoa hc cho nên chúng tôi làm thc chng, bng c rõ ràng.

Còn các ông y thì mt mt rt hn chế v hc vn, bi vì chúng ta đã biết cái vic đào to quan chc Vit Nam có xut phát t hc vn đâu, có xut phát t giáo dc đâu. Cho nên chúng tôi rt thông cm vi các ông y, không trách các ông y làm gì, nhưng mà ít ra khi các ông y làm cái vic gi là hu h b trên thì các ông y phi gi cho đưc tư cách, tc là s trung thc.

Có nhng điu mình thy rng không th cưng li b trên nhưng mình không nên nói. Các ông y đã nói liu cho nên chúng tôi cũng phi đn đo rt k, cui cùng thì chúng tôi thy phi nói li cho nó rõ các s thiếu trung thc ca B Công Thương, cái s hù do mt cách rt là khôi hài ca B Công Thương trong vic gán ghép mt cái kiến ngh hết sc chính đáng ca hàng ngàn con ngưi.

Phn ng ca Chính quyn?

Mc Lâm : Và nhng gii chc đưc nêu tên trong bn kiến ngh th hai gm có Th Tưng Nguyn Tn Dũng, Ch Tch Nưc Nguyn Minh Triết và Ch Tch Quc Hi Nguyn Phú Trng có phn hi c th gì hay chưa?

GS Nguyn Hu Chi : Rõ ràng là các ông y làm thinh và thái đ ca ông Nguyn Tn Dũng theo tôi là khó hiu. Mi hôm trưc thì "xin tiếp thu ý kiến ca đi tưng" nhân ngày k nim 55 năm chiến thng Đin Biên Ph, nhưng mà hôm sau nói vi c tri Hi Phòng thì li nói ngay rng "phi biến cái khai thác bauxite thành mt công nghip ln" thì theo tôi là khó hiu, có ch nói là kỳ quái trong mt đt nưc trng l nghĩa như đt nưc này.

Thế nhưng điu y nó cũng phn ánh mt điu, tc là các anh đã b chm phi nhng tiếng nói mà các anh thy rng không th hoàn toàn làm ngơ đưc.

Mc Lâm : Đó là nhng gì mà Th Tưng Dũng đã làm, còn ông Ch Tch Quc Hi - Nguyn Phú Trng thì sao, thưa Giáo Sư?

GS Nguyn Hu Chi : Ông Nguyn Phú Trng là ngưi đng đu quc hi, ch tch quc hi, mà quc hi là nơi son tho ra pháp lut, thay đi c hiến pháp, thế mà ông y nói rng "theo quy đnh ca Quc Hi thì vi s tin như thế, như thế... không th đưa ra bàn".

Anh chu áp lc ca pháp lut và hiến pháp, khi anh đng đu đ son tho ra hiến pháp và pháp lut, mt vn đ quan trng như thế l ra anh phi nói rng là rõ ràng đây phi đưa ra bàn bi vì nó nm trong 1 trong 4 điu mà phi đưa ra bàn quc hi nếu như cái d án y vào cái v thế quan trng, him yếu ca đt nưc. Thế mà anh li l cái vic y đi đ anh ch nói đến s tin. Cho nên tt c nhng li l như thế cho ta thy mt s lúng túng.

Mc Lâm : Giáo Sư có hy vng nhng kết qu kh quan t hai bc thư ng mà Giaó Sư và nhng ngưi ch trương đang theo đui hay không?

GS Nguyn Hu Chi : Tôi nghĩ là v phương din nào đó cho thy thin chí ca ngưi ta trong vic phn hi mt cách gián tiếp nhng điu mà dư lun đt ra, trong đó không phi ch có lá thư kiến ngh và nhng bc thư ng ca chúng tôi, mà chc đây là tiếng nói dy sóng ca toàn th dân tc, mà tâm huyết nht là hai lá thư và li nói thng ca Đi Tưng vào đúng hôm chiến thng Đin Biên Ph.

Trong thư ng s 2 ca chúng tôi, chúng tôi rt tôn trng, nhưng chúng tôi có đt phn kết "nếu như gii pháp vn là gii pháp hy sinh li ích ln nht là an toàn ca đt nưc đ phc v cho bên đi tác mà mình đã l ký thì dân tc Vit Nam này có lch s hàng nghìn năm s là mt dân tc không khut phc". Chúng tôi vn lng nghe bi vì chúng tôi là ngưi dân, nhưng mt khi ngưi đng đu t ra không tiếp nhn đưc cái tình cm yêu nưc tích lu t hàng nghìn năm ca dân tc thì chính là các anh đi đu vi mt vn nn rt ln.

Mc Lâm : Xin cám ơn Giáo sư Nguyn Hu Chi đã cho phép chúng tôi thc hin cuc phng vn ngày hôm nay.

-->đọc tiếp...